“GIAO LƯU TRỰC TUYẾN VỚI 3 CỤ HOBBES, LOCKE VÀ ROUSSEAU

Sinh viên luật khoa sau khi đau đầu với những “l’Esprist du droit”, Le “Contrat Social”, “Leviathan”, Deux Treatises du Governement” của các cụ tiền bối nên đọc bài này
Bùi Văn Nam Sơn
Nguồn: Báo Sài Gòn Tiếp Thị

Người dẫn chương trình: Mời quý vị theo dõi buổi tranh luận “trực tuyến” (tưởng tượng!) với ba vị tổ sư chung quanh câu hỏi: Nhà nước để làm gì? Dân quyền cần được thể chế hoá ra sao? Xin nhiệt liệt giới thiệu cụ Jean-Jacques Rousseau (1712 – 1778) người Pháp và hai cụ tiền bối người Anh là Thomas Hobbes (1588 – 1679) và John Locke (1632 – 1704).

“Kính lão đắc thọ”, thưa cụ Hobbes, cụ là người sáng lập triết học về nhà nước hiện đại. Tại sao cụ đặt tên cho tác phẩm chính năm 1651 của cụ là Leviathan?
Hobbes: Ờ, như đã có người giới thiệu trong Kinh Thánh, Leviathan là con thuỷ quái hung dữ khiến ai cũng khiếp sợ. Tôi dùng hình ảnh ấy để minh hoạ quyền lực vô biên của nhà nước. Nó gieo rắc sợ hãi và buộc mọi người phải khuất phục.
Người dẫn: Thật khác hẳn với quan niệm cổ đại và trung đại! Aristoteles xem con người là sinh vật xã hội và nhà nước mang lại sự hoà hợp hơn là kẻ gieo rắc sợ hãi.
Hobbes: Đúng thế, tôi không còn xem con người là sinh vật xã hội nữa mà xuất phát từ con người riêng lẻ với sự tự do cá nhân của họ. Theo bản tính tự nhiên, không ai chịu phục tùng ai, do đó, sự hạn chế quyền tự do chỉ có thể được chấp nhận khi mọi người đều tán thành. Trong Leviathan, tôi chứng minh rằng nhà nước có quyền lực vô biên và hung dữ là nhờ có sự tán thành của mọi người.
Người dẫn: Lạ vậy? Xin cụ nói rõ hơn.
Hobbes: Thì ông nhìn đấy! Muốn biện minh cho sự tồn tại của nhà nước, phải bắt đầu từ trạng thái tự nhiên, tức bắt đầu từ cái ngược lại.
Người dẫn: Nhưng trạng thái tự nhiên làm gì có trong thực tế! Có ai đang sống trong trạng thái ấy đâu?
Hobbes: A, đừng hiểu lầm. Trạng thái tự nhiên không phải là tình trạng sơ khai trong lịch sử mà chỉ là một thử nghiệm tư duy của tôi thôi. Tôi thử giả định trường hợp con người sống không có nhà nước, không có luật pháp… để xem thử sẽ xảy ra chuyện gì và gặp phải những khó khăn nào. Từ đó cho thấy nhà nước là cần thiết để khắc phục những khó khăn, khiếm khuyết ấy.

Người dẫn: Vâng, tôi hiểu. Vậy khó khăn, khuyết điểm nào vậy?

Hobbes: Đó là tình trạng “chiến tranh của tất cả chống lại tất cả”. Không phải tôi bảo rằng nếu không có nhà nước thì cứ chiến tranh liên miên, mà bảo rằng, trong tình trạng đó, con người luôn nghi kỵ nhau và sẵn sàng choảng nhau bất kỳ lúc nào. Nói một cách hình tượng: “người là chó sói với người”.
Rousseau (chen vào): Ồ, cụ quá lời rồi! Bản tính tự nhiên của con người đâu có ích kỷ và xấu xa như cụ nghĩ! Tôi đã chứng minh điều ấy trong Luận văn về nguồn gốc và cơ sở của sự bất bình đẳng của con người.
Người dẫn: Xin cụ Rousseau cứ để cho cụ Hobbes nói hết ý đã. Lát nữa sẽ xin mời cụ có ý kiến!
Hobbes: Này anh bạn trẻ Rousseau, hãy có cái nhìn thực tế đi! Con người quan tâm đến sự an toàn và hạnh phúc của mình trước hết, đấy không phải ích kỷ thì là gì? Tôi có cái nhìn hơi bi quan về con người cũng là do kinh nghiệm thực tế trong thời nội chiến ác liệt của nước tôi, khiến năm 1640 tôi phải chạy sang nước Pháp của anh để tị nạn suốt mười năm đấy. Điều thứ hai là: tự nhiên sinh ra con người ai ai cũng gần như nhau. Ngay kẻ yếu nhất cũng có thể thanh toán người mạnh nhất, nếu anh ta dùng mưu mẹo hay liên kết với người khác. Do đó, trong trạng thái tự nhiên, không ai có ưu thế hơn hẳn ai cả. Không có nhà nước thì mạnh ai nấy làm. Đó chính là tình trạng “chiến tranh của tất cả chống lại tất cả” mà nói bằng tiếng Latinh cho oai là “bella omnium contra omnes”!

Pháp luật sinh ra không phải là để hạn chế tự do của con người mà là khai phong tự do ! – Cụ Hobbes

Người dẫn: Thế làm sao tránh được một cuộc chiến tranh toàn thể như thế hả cụ?
Hobbes: Cách duy nhất là phải thiết lập một quyền lực phổ biến, tức là nhà nước. Tôi đã gọi hành vi khai sinh ra nhà nước ấy là “khế ước xã hội”. Người đầu tiên đấy nhé! Nhưng đừng lẫn lộn “khế ước xã hội” với “khế ước cai trị”. “Khế ước cai trị” là giữa kẻ cầm quyền với nhân dân. Còn “khế ước xã hội” là giữa những người công dân với nhau, chứ không phải với kẻ cầm quyền. Nếu nguyên nhân của chiến tranh là do ai cũng có quyền thì để có hoà bình, ta phải thoả thuận với nhau một khế ước, trong đó tuyên bố rõ rằng ta từ bỏ cái quyền muốn làm gì thì làm ấy đi và uỷ thác cái quyền ấy cho một kẻ cai trị. Với quyền hạn được trao, kẻ cai trị mới có thể ngăn ngừa sự tấn công lẫn nhau và sự tấn công của ngoại bang. Nhiệm vụ này cũng hoàn toàn có thể do một tập thể hay một nghị hội đảm nhận.
Người dẫn: Thế cụ nghĩ người ta sẵn sàng tự nguyện từ bỏ quyền hạn của mình à?
Hobbes: Tại sao không? Ngay cả kẻ ích kỷ nhất cũng thấy thế là có lợi cho mình, được yên tâm ăn ngon ngủ kỹ!
Người dẫn: Thế nếu có người không chịu ký khế ước thì làm thế nào?
Hobbes: Đúng là có vấn đề ấy! Người ta chỉ chịu từ bỏ quyền hạn nếu ai ai cũng đồng lòng làm như thế. Khế ước sẽ không thành nếu không được mọi người – trừ kẻ cầm quyền – tự nguyện từ bỏ quyền hạn. Đây chỉ là kịch bản thử nghiệm để chứng minh sự cần thiết của nhà nước thôi mà! Nhưng tôi vẫn tin rằng sau khi suy nghĩ kỹ, chắc mọi người đều chịu ký!
Người dẫn: Vâng, thôi cũng được, vậy theo cụ, nhà nước có quyền lực đến đâu?
Hobbes: Tuyệt đối! Bao lâu nhà nước bảo đảm được sự ổn định và an ninh, thì mọi người phải tuân lệnh, không ai được chống lại, cho dù thấy mình bị đối xử bất công. Kẻ cầm quyền có thể trấn áp, kết án, bỏ tù, thậm chí xử tử người vô tội, nếu thấy có lợi cho cuộc trị an! Nghĩa vụ vâng lời chỉ kết thúc khi nhà nước không làm tròn trách nhiệm ấy!
Rousseau (la to): Trời ơi là trời! Thế là cụ muốn bênh vực cho chế độ quân chủ chuyên chế rồi! Là nhà dân chủ, tại hạ kiên quyết phản đối!
Hobbes: Cuộc nội chiến ở nước tôi chỉ kết thúc khi Cromwell thiết lập chế độ độc tài năm 1649 đấy thôi! Tôi thấy nguy cơ độc tài chuyên chế còn đỡ hơn nguy cơ hỗn loạn vô chính phủ!
Rousseau: Ồ, ồ…
Người dẫn: Xin hai cụ bớt nóng! Chúng ta còn chờ nghe cao kiến của cụ Locke để xem có lựa chọn nào khác không!
Chúng ta vừa nghe cụ Hobbes chủ trương một nhà nước mạnh, có quyền lực vô biên để đảm bảo an ninh công cộng. Thưa cụ Locke, là tác giả của Hai khảo luận về chính quyền (1689 – 1690), cụ nghĩ gì về quan niệm ấy của cụ Hobbes?
John Locke: Tôi không ngờ tác phẩm của tôi lại có tác động mạnh đến thế, khi trở thành tư tưởng dẫn đạo

Cụ Locke

cho bản Hiến pháp Hoa Kỳ, rồi được trích dẫn lại cả trong Tuyên ngôn độc lập của nước các bạn! Tôi cũng thích thú được biết quyển Khảo luận thứ hai đã được ông nghè Lê Tuấn Huy dịch sang tiếng Việt (NXB Tri Thức, 2007), tuy muộn đến hơn… 300 năm! (cười) (Người dẫn chen vào: Muộn còn hơn không, thưa cụ!) Trở lại với câu hỏi, có hai mặt. Việc biện minh sự tồn tại của nhà nước bằng khế ước xã hội quả là một trong những ý tưởng thiên tài nhất trong triết học chính trị. Chỗ này tôi khâm phục và xin tiếp thu cụ Hobbes. Nhưng, tôi lại có một quan niệm hoàn toàn khác cụ về trạng thái tự nhiên và, do đó, về vai trò của nhà nước. Theo tôi, trạng thái tự nhiên không phải là một trạng thái hỗn loạn, bởi nó luôn được những quyền hạn và nghĩa vụ tự nhiên điều chỉnh.
Người dẫn: Cụ đã gọi đó là những “nhân quyền tự nhiên”?
Locke: Đúng thế! Con người có lý trí, và chính lý trí sẽ dạy cho ta biết rằng không ai có quyền cướp bóc, đả thương, giết hại hay tước đoạt tự do của người khác. Đấy ông xem: nếu mọi người là bình đẳng, thì điều gì ta muốn người khác tôn trọng, ta cũng phải tôn trọng như vậy cho người khác, đó là quyền sống, quyền an toàn thân thể, quyền tự do và quyền sở hữu tài sản. Đó là những quyền bất khả xuất nhượng, bởi chúng thuộc về con người xét như là con người, chứ
không phải chờ nhà nước ban phát. Chúng đã hiện diện ngay trong trạng thái tự nhiên, khi con người ý thức mình là con người.
Người dẫn: Xin hỏi ngay: vậy, nhà nước có nhiệm vụ gì?
Locke: Hỏi hơi vội, nhưng có thể trả lời: nhà nước chỉ có nhiệm vụ duy nhất là bảo đảm và bảo vệ những quyền tự nhiên ấy!
Rousseau (chen vào): Nhà nước, trong mọi trường hợp, không được vi phạm các quyền ấy à?
Locke: Không! Tuyệt nhiên không được phép! Tôi khác với cụ Hobbes ở chỗ ấy đấy. Việc nhà nước có sự độc quyền vũ lực là mối nguy hiểm lớn đối với sự tự do của người công dân. Vì thế, vấn đề cốt yếu là phải thiết kế nhà nước thế nào để nhà nước không thể lạm quyền.
Người dẫn: Bằng cách nào hả cụ?
Locke: Bằng sự phân quyền, thế thôi! Tôi chủ trương phân quyền giữa lập pháp với hành pháp. Sau này, ông bạn Montesquieu (1689 – 1755) mở rộng thành tam quyền phân lập, thêm cả tư pháp nữa. Bây giờ, có người còn gọi báo chí, truyền thông là quyền lực thứ tư và gọi các tổ chức của xã hội là quyền lực thứ năm. Ồ, đó là một câu chuyện dài, nhưng tất cả đều bắt nguồn từ ý tưởng ban đầu của tôi đấy!
Rousseau (nhấp nhổm): Nhân quyền, phân quyền… hay đấy, còn phải cãi nhau cho ra lẽ. Tôi sốt ruột lắm rồi!
Người dẫn: Rồi sẽ đến lượt cụ, cụ Rousseau ạ! Thưa cụ Locke, xin bàn về nhân quyền trước.
Locke: Vâng, nhân quyền và việc bảo vệ nhân quyền là một hành trình rất dài. Ban đầu chỉ trong tư tưởng, rồi được thể chế hoá trong mỗi quốc gia và sau cùng, trên bình diện quốc tế. Ở phương Tây, ngay trong triết học Hy Lạp cổ đại đã có tư tưởng về sự bình đẳng của mọi người. Sau đó, tư tưởng Kitô giáo tiếp tục truyền thống nhân quyền tự nhiên do thượng đế ban cho. Hai nguồn tư tưởng có yêu sách phổ quát ấy phải chờ đến thời của tôi mới từng bước được thể chế hoá.
Người dẫn: Hình như nước Anh của cụ vẫn là kẻ tiên phong?
Locke: Tôi tự hào mà xác nhận điều đó! Ngay từ năm 1215, Đại hiến chương Magna Charta Libertatum đã hạn chế một số quyền lực của ông vua. Năm 1628, bảo đảm quyền an toàn thân thể của người dân. Năm 1679 lại có bước đột phá mới: các nhân quyền được cụ thể hoá trong luật pháp: công dân không bị bắt bớ vô cớ và phải được thẩm phán xét xử. Các quyền này cũng được dành cho cả các thuộc địa, chẳng hạn ở Mỹ. Dựa vào các ý tưởng của tôi, năm 1776 ở Mỹ hình thành hai văn bản bất hủ: Tuyên bố nhân quyền Virginia và Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ. Văn bản trước thật đáng nhắc tới, vì nó xác định rõ các quyền cốt lõi bất khả xâm phạm: quyền sống, quyền tự do, quyền sở hữu tài sản, quyền tự do hội họp và tự do báo chí, quyền tự do đi lại, quyền khiếu tố, khiếu nại, quyền được pháp luật bảo vệ và quyền ứng cử, bầu cử. Ở lục địa châu Âu, cách mạng Pháp bùng nổ với khẩu hiệu “Tự do, bình đẳng, bác ái”, cho ra đời Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền nổi tiếng vào ngày 26.8.1789, rồi các nước khác lần lượt theo chân trong suốt thế kỷ 19. Tư tưởng triết học đã trở thành hiện thực trong các định chế chính trị và pháp lý. Nhưng, …
Người dẫn: Nhưng sao cụ?
Locke: Chuyện này xảy ra sau khi tôi mất đã lâu! Chỉ biết rằng người ta gặp vấn đề lớn: các nhân quyền có giá trị phổ quát, trong khi các định chế chỉ có giá trị trong khuôn khổ các quốc gia. Chính thảm hoạ của hai cuộc thế chiến ở thế kỷ 20 buộc mọi người nhận ra rằng: nhân quyền không chỉ là chuyện của từng quốc gia riêng lẻ mà còn của cộng đồng quốc tế. Thế là ra đời Hiến chương của Liên hiệp quốc vào ngày 26.6.1945 (nhất là điều 56) và Tuyên bố chung về nhân quyền ngày 10.10.1948 có tính ràng buộc cho mọi nước thành viên. Sau đó còn có nhiều công ước liên quan nữa.
Người dẫn: Hiến chương, tuyên bố, công ước… giống như những luật chơi quốc tế. Thế còn trọng tài?
Locke: Trọng tài chính ở đây là Liên hiệp quốc với các định chế tài phán. Còn trọng tài biên là các cơ quan, tổ chức phi chính phủ không có quyền tài phán nhưng theo dõi, phát hiện, cảnh báo. Giống như trong một trận bóng, cầu thủ hai đội lẫn khán giả thường không ưa thích trọng tài chính lẫn trọng tài biên, còn la ó và đổ lỗi nữa! Bao nhiêu vụ chơi xấu vẫn diễn ra sau lưng trọng tài, nhưng thử tưởng tượng một trận đấu mà không có trọng tài… Vì thế, nâng cao đạo đức của cầu thủ và tăng cường quyền hạn của trọng tài là hai mặt của một đồng tiền! Tôi thấy bà Mary Robinson, cựu cao uỷ Liên hiệp quốc có lý khi bảo rằng: “Những vi phạm nhân quyền hôm nay là nguyên nhân cho những xung đột ngày mai”. Cả ông cựu Tổng thư ký Liên hiệp quốc Kofi Annan nữa: “Một Liên hiệp quốc mà không bảo vệ được nhân quyền thì cũng không thể bảo vệ được chính mình”. Tôi mà còn sống, chắc tôi sẽ phải viết thêm vài quyển Khảo luận nữa!
Người dẫn chương trình: Thưa cụ Rousseau, cụ đã nhiều lần tỏ ra sốt ruột, vì hình như cụ không mấy đồng tình với cụ Hobbes lẫn cụ Locke. Thế nhưng, tại sao cụ, một trong những người cha tinh thần của đại cách mạng Pháp, lại đặt tên cho tác phẩm nổi tiếng của mình là Khế ước xã hội (1762), một thuật ngữ thuộc bản quyền của hai cụ kia?

Cụ Rousseau trẻ và đẹp trai nhất: Con người sinh ra vốn tự do nhưng ở đâu nó cũng bị xiềng xích !

. J. Rousseau: Tôi sinh sau đẻ muộn so với hai cụ nên bây giờ mới được phát biểu! Nói thật nhé, ngoài nhan đề ấy ra, tôi chả có điểm gì chung với hai cụ ấy cả! Tôi dám nói rằng, tuy có vay mượn thuật ngữ, nhưng chính tôi mới là người thật sự hiểu đúng ý nghĩa của “khế ước xã hội”. Động cơ lớn nhất của tôi là bảo vệ tự do của con người. Trong trạng thái tự nhiên, con người là hoàn toàn độc lập và tự do, thế nhưng nhìn đâu cũng thấy con người đang ở trong xiềng xích. Vì thế, vấn đề cơ bản của triết học chính trị là: làm sao tìm ra được một hình thức nhà nước vừa bảo vệ con người, đồng thời con người cũng không phải từ bỏ quyền tự do của chính mình?
Hobbes: Không thể có chuyện “lưỡng toàn” như thế được đâu, ông Rousseau ạ!
Rousseau: Thưa cụ, hoàn toàn có thể được! Miễn là phải đáp ứng một số điều kiện mà do thời lượng, à quên, do khuôn khổ bài báo, tôi chỉ đề cập ngắn gọn hai điểm thôi. Thứ nhất, khi ký kết khế ước, mọi người phải tuyệt đối được đối xử bình đẳng, không ngoại lệ. Nghĩa là, khác với hình dung của cụ Hobbes, không được phép có kẻ cầm quyền đứng bên ngoài khế ước xã hội. Điều khiển nhà nước không phải từ ý chí độc đoán của kẻ cầm quyền mà từ “ý chí phổ biến” của nhân dân. Trong mọi vấn đề chính trị, ý muốn của nhân dân là quyết định, cho nên khế ước xã hội nhất thiết phải dẫn đến nền dân chủ và cộng hoà. Tôi hiểu đó là quyền phúc quyết tối hậu của nhân dân cũng như việc trưng cầu dân ý thường xuyên về mọi quyết định chính trị. Một khi ý chí của nhà nước và ý chí của từng công dân phù hợp với nhau thì công dân mới được tự do, bởi khi tuân lệnh nhà nước, người công dân kỳ cùng chỉ tuân theo chính mình!
Locke: Nói nghe hay lắm, nhưng ông thừa biết khi trưng cầu ý dân thì chín người mười ý, chẳng bao giờ đi đến được một ý chí thống nhất. Tại sao thế? Vì lẽ giản dị là lợi ích của mỗi người và của nhiều nhóm người trong xã hội là khác biệt nhau.
Rousseau: Tôi đồng ý với cụ ở điểm ấy. Nhưng đừng quên rằng ý chí phổ biến không đồng nhất với tổng số những ý chí cá biệt. Và từ đó tôi đi đến điều kiện thứ hai. Nếu những khác biệt về ý kiến và lợi ích là do sự khác biệt về các quan hệ sở hữu mà ra, thì ta phải làm cho sự khác biệt ấy không còn nữa. Cho nên, theo tôi, trong khế ước xã hội, con người không chỉ tự từ bỏ những quyền hạn mà còn phải từ bỏ cả sở hữu của mình nữa. Từ đó, nhiệm vụ của nhà nước là phải quân phân, nghĩa là, chia đều sản phẩm xã hội. Bấy giờ, chỉ còn lợi ích chung là đảm bảo đời sống cộng đồng hoà hợp. Cụ thấy không, như thế là thoả mãn được cả hai điều: sự ngự trị của ý chí phổ biến và tự do của cá nhân trong nhà nước.
Hobbes: Mơ mộng hão huyền thôi, anh bạn trẻ ạ! Lịch sử cho thấy những ý tưởng ấy chẳng bao giờ thành hiện thực được cả! Thứ nhất, về nền dân chủ trực tiếp thì có thể tương đối dễ thực hiện trong phạm vi nhỏ như thành phố Genève là sinh quán của anh, chứ làm sao thực hiện được ở những quốc gia đông dân? Còn việc quân phân tài sản là một ý tưởng tốt đẹp, nhưng tôi e không khéo sẽ vấp phải vết xe đổ của… quan liêu bao cấp!

“Chính trị là nghệ thuật của cái có thể”. – Otto Von Bismarck (1815-1898)
Rousseau: Đấy chỉ là vấn đề kỹ thuật, thưa cụ Hobbes! Ở những nước đông dân, tôi cũng đã dự kiến hình thức dân chủ đại diện. Nhưng, nguyên lý lớn nhất của tôi vẫn là: chủ quyền và quyền phúc quyết, tức việc lập hiến, là thuộc về nhân dân theo nguyên tắc nhất trí, còn việc lập pháp có thể theo nguyên tắc đa số. Chủ quyền thống nhất nơi nhân dân – chứ không phải nơi nhà nước – là không thể phân chia, không thể uỷ thác, và do đó, không cần đặt ra vấn đề phân quyền nữa! Chính phủ chỉ đơn thuần thực hiện những gì nhân dân đã biểu quyết và bị giám sát thường xuyên, có nhiệm kỳ và có thể được thay thế bất kỳ lúc nào. Còn, thưa cụ, nếu không có đòi hỏi quân phân tài sản của tôi thì đã không có các cao trào đấu tranh cho sự bình đẳng xã hội để dẫn đến sự hình thành các loại hình nhà nước phúc lợi như ngày nay. Nhà nước mà không lo cho người nghèo, người thất nghiệp, đau ốm thì lo cho ai? Chính vì thế, xin lỗi cụ Locke, dưới mắt tôi, nhà nước của cụ chỉ là anh chàng gác đêm, lo canh cửa và giữ của cho bọn nhà giàu!
Locke: Anh Rousseau ạ, tôi thấy ý tưởng của anh về chủ quyền thuộc về nhân dân là rất hay, nhưng cái “ý chí phổ biến” của anh thì mù mờ, rất dễ bị thần thánh hoá và lợi dụng để lạm quyền đấy. Robespierre chẳng đã nhân danh “ý chí phổ biến” để tiến hành khủng bố trong thời cách mạng Pháp đó sao? Phát triển tư tưởng của anh, việc xoá bỏ sự phân quyền để thay bằng sự phân công như chủ trương của anh Hegel sau này trong quyển Các nguyên lý của triết học pháp quyền (1820 – NXB Tri Thức, 2010) chỉ là một khả năng lý thuyết, tiền giả định một xã hội tự nó đã đa dạng hoá đến cao độ, có tính tự trị rất cao, trong đó quyền của vị nguyên thủ chỉ mang tính tượng trưng như dấu chấm trên chữ i mà thôi. Còn nhà nước phúc lợi, đến mức nào đó, có thể làm cho nhà nước phá sản như chơi!
Người dẫn chương trình: Xem ra ba cụ khó đi đến chỗ hoàn toàn đồng ý với nhau. Là kẻ hậu sinh, chỉ xin phép tóm tắt theo kiểu… dung hoà như sau: cao kiến của ba cụ thật ra không hoàn toàn loại trừ nhau! Có một nhà nước mạnh để bảo đảm an ninh và hoà bình là cần thiết theo ý cụ Hobbes. Nhà nước hiện đại với tính đa dạng, năng động đi liền với nguyên tắc “kiểm tra và cân bằng” cũng đang chứng tỏ sức sống theo hình dung của cụ Locke. Sau cùng, một nhà nước phúc lợi dân chủ mang lại sự an sinh và bình đẳng xã hội là hoàn toàn phù hợp với nguyện vọng của cụ Rousseau. Cái gì cực đoan quá cũng không tốt cho con người, phải không thưa các cụ? Xin cảm ơn sự hiện diện của ba cụ và sự theo dõi của quý vị!
——
(viết lại theo kịch bản của Bernd Rolf)
“Mục đích của luật pháp không phải để hạn chế mà để bảo vệ và mở rộng sự tự do”. – John Locke(1632–1704)


THÔNG TIN BẤT CÂN XỨNG VÀ VAI TRÒ HIỆU CHỈNH CỦA XÃ HỘI DÂN SỰ

Đinh Thế Hưng
Viện Nhà nước và Pháp luật

Tham luận tại Hội thảo khoa học của Đề tài nghiên cứu cấp Bộ mã số 36/KHXH-HĐKH-CT11-16-05 “Các xu hướng hợp tác giữa Nhà nước với thị trường và xã hội dân sự trong Nhà nước pháp quyền” tổ chức tại TP Hồ Chí Minh ngày 23- 24/4/2012. Ban chủ nhiệm đề tài giữ bản quyền bài viết này

Kính thưa các nhà khoa học
Tôi xin bắt đầu tham luận này bằng sự việc thực tế: Nhiều quan chức, báo chí hay mắng mỏ người dân chúng ta làm làm gì cũng theo tâm lý bầy đàn. Đổ xô đi mua đất, đổ xô đi mua vàng, đổ xô đi chơi chứng khoán vv….Nhưng nguyên nhân chủ yếu của cái gọi là tâm lý bầy đàn này chính là dân chúng thiếu thông tin.
Những hậu quả của sự thiếu thông tin trong thời gian qua đã đủ để khẳng định sự cần thiết trong việc minh bạch hoá thông tin khi mà có quá nhiều tin đồn gây hoang mang trong dư luận và đã có hậu quả không mong muốn. Đó là cơn sốt giá gạo vừa lắng xuống thì cơn sốt giá ngoại tệ lại bùng lên, tiếp theo là thông tin xăng tăng giá ở một số địa phương. Những tin đồn này chỉ được dập tắt khi có những biện pháp quýet liệt của chính phủ, trong đó có việc minh bạch thông tin. Đó là phát biểu của nhà chức trách về tình hình dự trữ lúa gạo. Người dân không đổ xô đi mua ngoại tệ khi khả năng dự trữ ngoại tệ của đất nước- điều mà trước nay không mấy người biết , được nhà chức trách công khai. Từ đó cho thấy, đối phó hiệu quả với tin đồn thất thiệt, trấn an dư luận không nằm ở việc truy bắt xử lý đối tượng gây tin đồn, ở việc kêu gọi chung chung mà nhờ chính những thông tin minh bạch.
Chưa bao giờ đòi hỏi về tính minh bạch lại cao như lúc này. Trên thị trường chứng khoán nhà đầu tư mong mỏi và đặt niềm tin vào sự làm ăn minh bach của các công ty. Trong công tác cán bộ, đòi hỏi phải công khai quy trình bổ nhiệm, trong xét xử người dân muốn tiếp cận các phán quyết của toà trên các phương tiện thông tin đại chúng, để giám sát nhân viên công quyền, người dân đòi hỏi họ phải công khai tài sản…. Những tiêu cực phát sinh trong đời sống, trong sản xuất kinh doanh , trong sinh hoạt chính trị …thời gian qua nhiều khi bắt nguồn từ việc thiếu minh bạch. Thiếu minh bạch là mảnh đất tốt cho nhưng tin đồn thiếu thiện ý cho cách xử sự theo bản năng bầy đàn và người gánh chịu hậu quả đầu tiên là những người lương thiện và ngay thẳng. Vấn đề chúng tôi muốn nghiên cứu ở đây là trước tình trạng bất cân xứng thông tin và nhu cầu minh bạch thông tin, xã hội dân sự có thể làm được gì và giúp được gì để giải quyết câu chuyện này ?
1. Thông tin – kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự
Nếu Rouseau nói rằng con người sinh ra vốn bình đẳng thì cần hiểu là sự bình đẳng về tư cách con người. Khi có nhà nước thì nó đã tước đi sự bình đẳng này: Con người sinh ra vốn tự do nhưng ở đâu nó cũng bị xiềng xích Về mặt thực tế, sự bình đẳng nhìn từ các khía cạnh tự nhiên, kinh tế, cơ hội thì con người ta sẽ không bình đẳng và nhiệm vụ của nhà nước văn minh là khỏa lấp sự bất bình đẳng này đem đến những cơ hội ngang nhau cho các thành viên trong xã hội. Nói cách khác là nhà nước bên cạnh cổ vũ kẻ mạnh bởi họ là động lực của phát triển thì không quên một nhiệm vụ phải bảo vệ kẻ yếu thế.
Bình đẳng hay bất bình đẳng là một phạm trù phủ sóng mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và xuất hiện ở các quan hệ khác nhau. Điều đáng lo ngại đó chính là sự bất bình đẳng trong mối quan hệ giữa cá nhân và công quyền, giữa các chủ thể của thị trường.
Nếu xét bình đẳng trong mối quan hệ đó thì việc người ta lo ngại về một tình trạng đang xảy ra là: bất bình đẳng thông tin còn nguy hiểm hơn bất bình đẳng về kinh tế là hoàn toàn đúng. Hiên thực đó đã và đang tồn tại trong xã hội hiện đại và xóa bỏ tình trạng này không chỉ trông chờ vào chủ thể là nhà nước mà còn có những chủ thể khác và các cơ chế khác ngoài nhà nước. Trong đó, vai trò của xã hội dân sự đối với sự bất bình đẳng hay bất cân xứng thông tin là một ví dụ.
Chính vì vậy tôi hoàn toàn đồng ý với ban chủ nhiệm đề tài khi thiêt kế chuyên đề nghiên cứu này cho đề tài. Bởi lẽ, nói đến trụ cột của sự phát triển xã hội là: Kinh tế thị trường- nhà nước pháp quyền- xã hội dân sự theo một nguyên lý vận hành: kinh tế thị trường đẩy, nhà nước kéo, xã hội dân sự canh chừng và ở nước ta vì là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nên có thêm Đảng ngồi cầm lái.
Nói đến ba trụ cột này không thể không đề cấp tới vấn đề tiếp cận thông tin bởi lẽ thông tin có thể xét dưới góc độ kinh tế thị trường khi: thông tin quý hơn vàng. Sự bất bình đẳng thông tin sẽ dẫn đến sự bất bình đẳng về kinh tế. Nói cách khác người nắm quyền lực về thông tin sẽ thống trị về kinh tế.
Với nhà nước pháp quyền thì tiếp cận thông tin trước hết là một quyền con người mà nhà nước pháp quyền có nhiệm vụ phải bảo đảm, đồng thời thông tin minh bạch sẽ là một công cụ hữu hiệu để dân chúng giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước, thực hiện các nhân quyền của mình.
Nhờ được tiếp cận thông tin một cách cởi mở và hầu như không bị cản trở đã khiến người dân có được những thông tin phù hợp nhất, từ đó có thể đưa ra những những quyết định cho hầu tất cả các lựa chọn của họ trong cuộc sống và trong nghĩa vụ công dân. Biết thông tin đầy đủ về các đại biểu Quốc hội hay về ứng viên tổng thống khiến người dân có thể bỏ phiếu cho đúng người mà họ nghĩ là xứng đáng nhất. Biết thông tin đầy đủ về các chương trình hoạt động của chính phủ, người dân khi phản đối hoặc đồng tình có thể tự do biểu đạt ý kiến của họ qua các phương tiện truyền thông, và từ đó giúp chính phủ nắm bắt sâu sát hơn ý nguyện của họ. Biết thông tin đầy đủ về tình hình thế giới, họ có thể đưa ra quyết định hay tiếng nói tác động làm thay đổi thế giới theo hướng tích cực hơn…
Theo nghĩa tích cực hơn, thông tin sẽ làm cho sự cộng tác giữa cá nhân và nhà nước chặt chẽ hơn hưởng cả hai tới mục đích duy nhất là sự phát triển của xã hội và vì con người. Mục đích của luật Tiếp cận thông tin mà Quốc hội và giới khoa học đang bàn có lẽ chính là việc tạo ra sự bình đẳng trong cơ hội tiếp cận thông tin của các chủ thể trong đó nhấn mạnh trách nhiệm, vai trò của người sở hữu nguồn thông tin khổng lồ và nắm nhiều lợi thế đó là nhà nước. Tuy nhiên, xã hội trong trạng thái pháp quyền nhà nước chỉ là một yếu tố quan trọng trong nhiều yếu tố khác như thị trường và xã hội dân sự. Chính vì vậy, nhà nước không thể và không nên giải quyết mọi việc. hạn chế khaongr cách tiến tới xóa bỏ bất bình đẳng thông tin không thể không nhắc tới vai trò của xã hội dân sự. Xã hội dân sự được các triết gia tư sản thời Khai sáng sử dụng. Có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về xã hội dân sự nhưng từ sự đa dạng đó có thể khái quát thành mẫu số chung: Đó là sự hiện hữu của một lãnh vực công nằm giữa nhà nước, thị trường, và cá nhân. Chính trong lãnh vực công này mà các công dân hoạt động “nhằm biểu tỏ các mối quan tâm, tư tưởng, trao đổi thông tin, thực hiện các mục tiêu chung có tính chất hỗ tương, kiến nghị với nhà nước và buộc các viên chức nhà nước phải chịu trách nhiệm trong công vụ”
Xã hội dân sự có quyền lực riêng của nó. Điều này đã được chứng minh bằng cả lý thuyết và thực tiễn. Quyền lực của xã hội dân sự là phần còn lại của quyền lực của cá nhân sau khi họ đã trao quyền tự nhiên của mình cho nhà nước bằng khế ước. Hơn nữa , nguồn gốc của quyền lực là do con người luôn có nhu cầu sống quần tụ thành hội đoàn. Khi tự khép mình trong hội đoàn thì người ta buộc phải hy sinh chút ít tựu do để phục tùng tập thể và chịu sự chi phối của tập thể . Đó là tiền đề cho cái gọi là quyền lực của các hội đoàn trong đó có quyền lực của nhà nước và các tổ chức xã hội dân sự
Quyền lực của xã hội dân sự thể hiện ở việc nó buộc nhà nước phải thận trọng trong việc ra chính sách và pháp luật qua đó hạn chế sự lạm quyền. Đối với thị trường, xã hội dân sự kiềm chế những khuêts tật của nó như cạnh tranh không lành mạnh độc quyền, lừa đảo. Không có xã hội dân sự và không có quy chế liên hệ tương tác thì thể chế kinh tế chính trị chỉ dừng lại ở mong muốn chủ quan, kinh tế thị trường sẽ trở nên hoang dại. Thể chế nhà nước sẽ sa vào quan liêu, tham nhũng nặng nề.”
Thực tiễn, vụ Vedan cho thấy: Phạt hành chính 500 triệu đồng, khởi kiện dân sự ….không làm một tập đoàn hùng mạnh về tiềm lực tài chính như Vedan nao núng . Chỉ khi Hiệp hội siêu thị Việt Nam dấy lên phong trào tẩy chay sản phẩm Vedan tại tất cả các siêu thị, cùng với sự lên tiếng của các hội đoàn khác lập tức vụ việc Vedan chuyển sang hướng khác có lợi cho nông dân bằng việc Ve dan “xuống nước” chấp nhận thỏa thuận
Ngạn ngữ Việt Nam có câu rất hay mà có thể áp dụng khi nói về vai trò của xã hội dân sự đối với thông tin: Ai che được miệng thế gian? Cái mà ông bà ta gọi là “miệng thế gian” phải chăng là tiếng nói, thông tin từ xã hội dân sự mà quyền quyền lực nhà nước nhiều khi cũng bất lực và sợ hãi?
Từ quyền lực của xã hội dân sự thắp lên hy vọng cho người ta ở việc nó sẽ góp phần thu hẹp sự bất bình đẳng thông tin
2. Bất bình đẳng thông tin nguyên nhân, biểu hiện và hệ lụy
Lý thuyết thông tin bất cân xứng (Asymmetric Information) lần đầu tiên xuất hiện vào nhữngnăm 1970 và đã khẳng định được vị trí của mình trong nền kinh tế học hiện đại bằng sự kiệnnăm 2001, các nhà khoa học nghiên cứu lý thuyết này là George Akerlof, Michael Spence vàJoseph Stiglitz vinh dự nhận giải Nobel kinh tế.
Thông tin bất cân xứng xảy ra khi một bên giao dịch có ít thông tin hơn bên đối tác hoặc có thông tin nhưng thông tin không chính xác. Điều này khiến cho bên có ít thông tinhơn có những quyết định không chính xác khi thực hiện giao dịch đồng thời bên có nhiều thông tin hơn cũng sẽ có những hành vi gây bất lợi cho bên kia khi thực hiện nghĩa vụ giao dịch
Trong chính trị, sự bất đối xứng thông tin xuất hiện qua các biểu hiện dễ nhận biết như người dân không có hoặc ít có thông tin về các dự án hay các chương trình hoạt động của chính phủ có liên quan tới họ; không có hoặc ít có thông tin về các vị đại biểu trong các đợt bầu cử Quốc hội; không có hoặc ít có thông tin về các phiên tòa xét xử các tội phạm; không có hoặc có ít thông tin về thế giới và những giá trị phổ quát đang hiện hữu trên thế giới như dân chủ và tự do, v.v…
Nguyên nhân của sự bất cân xứng thông tin có nhiều. Trả lời câu hỏi ai nắm giữa nhiều thông tin hơn những người khác và tại sao họ lại có những lại thế đó sẽ lý giải được nguyên nhân của bất cân xứng thông tin ? Theo chúng tôi có các nguyên nhân chủ yếu sau: Trong xã hội có những người có lợi thế nhất định về chính trị kinh tế và xã hội nên việc chiếm hữu, tiếp cận thông tin của họ lợi thế hơn người khác. Thứ hai, vì những lợi ích mà thông tin đem lại nên các chủ thể nắm luôn có nhu cầu đọc quyền không chia sẻ. Thứ ba, do chính sự đa dạng của các nguồn thông tin dẫn đến sự nhầm lẫn của các chủ thể
Hai hệ quả phổ biến nhất do thông tin bất cân xứng gây ra là lựa chọn bất lợi (adverseselection) và tâm lý ỷ lại (moral hazard). Lựa chọn bất lợi là hành động xảy ra trước khi ký kết hợp đồng trong kinh doanh hay tham gia vào quan hệ pháp luật nào đó bên có nhiều thông tin có thể gây tổ hại cho bên ít thông tin hơn. Tâm lý ỷ lại là hành động của bên có nhiều thông tin hơn thực hiện sau khi ký kết hợp đồng có thể gây tổn hại cho bên có ít thông tin hơn. Sự bất bình đẳng thông tin được nhìn nhận từ hai khía cạnh. Thứ nhất là sự bất bình đẳng giữa nhà nước và cá nhân và sự bất bình đẳng giữa các chủ thể của thị trường như người bán, người mua. Xét trong mối quan hệ nhà nước pháp quyền, xã hội dân sự và thị trường thì trách của nhà nước trong việc để xảy ra tình trạng bất bình đẳng thông tin là điều không thể chối bỏ. Ở quan hệ thứ nhất: Hoạt động của nhà nước tác động toàn diện đến mọi hoạt động của đời sống xã hội nên việc cung cấp thông tin cho dân chungs là điều tất yêu. Mặt khác nhà nước với những lợi thế của mình nhà nước hơn ai hết nắm nhiều thông tin quan trọng đồng thời có những điều kiện thuận lợi để cung cấp thông tin cho người dân.
Ở quan hệ thứ hai: giữa các chủ thể tham gia thị trường thì việc trông chờ những người bán, cung cấp dịch vụ tự nguyện cung cấp thông tin, minh bạch khả năng và hoạt động của mình là sự duy ý chí. Họ chỉ làm điều đó khi nhà nước có sự can thiệp trong đó can thiệp hữu hiệu nhất là bằng công cụ pháp luật. Nhưng xét cho cùng không thể trông chờ toàn bộ vào nhà nước mà nhà nước nhiều khi làm việc đó do sức ép của xã hội dân sự và đôi khi nhờ xã hội dân sự nhà nước mới có thông tin.
3. Sự hiệu chỉnh của xã hội dân sự
Xã hội dân sự có vai trò hêịu chỉnh với nhà nước với thị trường . Đối với các chủ thể này xã hội dan sự có những hiệu chỉnh khác nhau trong đó có việc góp phần đem đến sự quân bình về thông tin và tiếp cận, sử dụng thônng tin. Để làm rõ vẫn đề này cách tiếp cận chính là từ đặc điểm, vai trò của xã hội dân sự và chính bản chất, đặc điểm của cái gọi là thông tin.
3.1 Xã hội dân sự- nguồn cung cấp thông tin đa chiều
Nhiều người luôn lo ngại và không thiện cảm với xã hội dân sự vì họ cho rằng xã hội dân sự là sự đối trọng với nhà nước- đối trọng theo nghĩa triệt tiêu, gây khó dễ….mà quên đi rằng xã hội dân sự và nhà nước còn có mối quan hệ hỗ trợ cho nhau. Sự tương tác giữa xã hội dân sự và nhà nước dù đôi lúc có trong trạng đối trọng đi chăng nữa cũng không nằm ngoài sự hỗ trợ. Thông thường các chính phủ vì nhiều lý do thường không yên tâm trước khối lượng thông tin dưới dạng thô bơm ra xã hội. Họ bao giờ cũng muốn kiểm duyệt hoặc ít nhất cũng muốn một thông tin mà họ cho là phải “sạch” theo cái nhìn của họ trước khi công bố. Dân chúng tiếp nhận thông tin nhiều khi không phải là những thông tin “thô” mà đã qua “bộ lọc” của Chính phủ và nhiều người cảm thấy yên tâm và tuyệt đối tin tưởng vào “bộ lọc” này. Nhưng trong thực tế không ít người muốn tự sàng lọc lấy thông tin vì họ muốn dùng khả năng đánh giá của mình hơn là những “bộ lọc” đó . Những thông tin dạng thô này nhiều khi lại đáp ứng được nhu cầu của đa dạng các đối tượng. Và đó là lúc mà vai trò cung cấp thông tin của xã hội lên tiếng. Chính sự “đa nguyên” của xã hội dân sự với những đặc trưng là: Một sự đa dạng về phạm vi hoạt động, các thành viên tham gia và các hình thái tổ chức, khác nhau về mức độ nghi lễ, tự do và quyền lực. Xã hội dân sự thường được hình thành dưới dạng các tổ chức như các hội từ thiện, các hiệp hội, các công đoàn, các nhóm tương trợ, các phòng trào xã hội, các hiệp hội kinh doanh, các liên minh, và các đoàn luật sư…. Sẽ đem đến sự đa dạng về thông tin cho các đối tượng có nhu cầu khác nhau. Qua đó sẽ thiết lập thế quân bình trong thông thông tin khi mà nhà nước không muốn hoặc không thể cung cấp thông tin cho xã hội.
Mặt khác đây cũng là nguồn thông tin hữu ích cho nhà nước làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách và pháp luật của nhà nước.
Nói về vai trò của thông tin đối với thị trường, Ts Lê Đăng Doanh cho rằng: Lừa đảo không phải là bản chất của “mua mua bán bán” của kinh tế thị trường như có người vẫn lớn tiếng lên án. Lừa đảo xuất hiện ở bất cứ đâu có bất đối xứng thông tin.” Còn chúng tôi thì cho rằng: Sự bất bình đẳng thông tin làm cho các khuyết tật của thị trường như: lừa đảo, trái với các quy luật thị trường, méo mó thị trường, cạnh tranh không lành mạnh….có cơ hội trỗi dậy và đương nhiên người chịu hậu quả đầu tiên và nặng nề nhất. Trước tình trạng bất bình đẳng thông tin giữa các chủ thể của thị trường thì nhà nước với công cụ pháp luật dường như chỉ có tác dụng khi sự lừa đảo đã xẩy ra và chắc chắn là muộn. Xã hội dân sự với những lợi thế của nó sẽ đem đến thông tin nhanh nhất và sức lan tỏa của nó rộng nhất và khách quan nhất sẽ khỏa lấp những khoảng trống về thông tin mà nhà nước không đảm đương được. Thông tin về thị trường từ xã hội dân sự cũng là những thông tin mà người ta có thể kiểm chứng một cách cụ thể nhất.
Ở khía cạnh tích cực, thị trường không thể coi nhẹ giá trị từ nguồn thông tin của xã hội dân sự. Các nhà buôn có lẽ quan tâm nhiều đến nhu cầu, mong muốn và các động thái của thị trường từ chính khách hàng, hiệp hội người tiêu dung hơn là các thông tin chính thống của nhà nước để điều chỉnh hoạt động của mình. Đến lượt mình, thị trường sẽ tổng hợp nhiều thông tin từ xã hội dân sự cung cấp ngược trở lại cho xã hội, đáp ứng được nhu cầu, lựoi ích của người mua.
3.2 Tác động đến nhà nước và thị trường nhằm quân bình thông tin
Sự tác động của xã hội dân sự thông qua nguồn thông tin mà nó nắm giữ đến nhà nước và thị trường chúng tôi muốn nói ở đây chính là sức ép mà nhiều người cho là đối trọng, kiềm chế thiết nghĩ cũng không sai. Các tổ chức của xã hội dân sự phản ánh lợi ích, nguyện vọng của các thành viên.
Cần thông tin và muốn minh bạch thông tin là một trong những lợi ích và nguyện vọng đó. Với vai trò phản biện của mình, xã hội dân sự buộc nhà nước và thị trường phải giải trình và qua sự giải trình đó, một lượng thông tin khổng lồ và độ xác thực cao đã được cung cấp cho xã hội. Cũng chính từ đó vai trò phản biện xã hội của xã hội được củng cố. Chúng tôi xin đơn cử một trường hợp cụ thể: VCCI đứng ra thu thập thông tin về môi trường đầu tư của các địa phương để xếp hạng năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI). Việc xếp hạng này đã đem đến hiệu quả tốt không ngờ. từ chỗ có chue tịch tỉnh phản đối gay gắt đến việc một số tỉnh thành hiện nay còn coi việc cải thiện thứ hạng trong PCI như là mục tiêu để phấn đấu, và mỗi bước cải thiện được coi như thành tích. Sẽ không một sự chỉ đạo điều hành hay quy phạm pháp luật này làm tốt hơn thế bởi chính quyền sẽ không hoặc khó thay đổi nếu không có tiếng nói từ cộng đồng doanh nghiệp thông qua tổ chức VCCI.
Và đúng như tờ Thời báo Kinh tế Việt Nam nhận định: “Có lẽ, không có cách nào khác, phải đặt dưới áp lực của công luận, của xã hội dân sự, các chủ thể đang có ảnh hưởng to lớn đến môi trường kinh doanh mới “chịu” thay đổi một cách căn bản, tạo nền tảng phát triển mạnh mẽ cho toàn bộ nền kinh tế”.
Mặt khác, khi xuất hiện thông tin và sức ép yêu cầu giải trình từ phái xã hội dân sự thì luông thông tin nhà nước đứng trước sự phản biện sắc sảo và thuyết phục. Thế độc quyền thông tin và cung cấp thông tin bị phá vỡ thì sự quân bình thông tin sẽ được thiết lập


CÔNG LÝ VÀ QUYỀN CON NGƯỜI – CÁC YÊU CẦU NHẰM ĐẢM BẢO TÍNH NHÂN DÂN CỦA QUYỀN TƯ PHÁP Ở VIỆT NAM

Tham luận tại Hội thảo của Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ: Mối quan hệ giữa nhà nước và nhân dân trong nhà nước pháp quyền Việt Nam do Viện Nhà nước và Pháp luật tổ chức ngày 6/4/2012
(Ban chủ nhiệm đề tài giữ bản quyền bài viết này)

Đinh Thế Hưng
Viện Nhà nước và pháp luật

Kính thưa các nhà khoa học !
Trước khi trình bày nội dung tham luận tôi có đôi bình luận đôi chút về đề tài đó là tính nhân dân của quyền lực nhà nước. Vấn đề này đọc lịch sử thế giới tôi thấy rằng cách đây 5.000 năm người Aten đã bàn đến rồi khi họ quyết định ai là công dân của thành bang. Đến thời điểm hiện nay thế kỷ 21, tại trong nhà nước pháp quyền Việt Nam XHCN giới khoa học và dân chúng nước nhà lại xới lên câu chuyện tưởng như khỏi phải bàn nữa là: Nhân dân là ai. Điều đó nó nói lên sự thú vị của đề tài nghiên cứu này !

1. Nguồn gốc của quyền tư pháp
Bản chất của con người là sống hợp quần thành xã hội và những tranh chấp xung đột giữa họ với nhau là điều tất yếu. Khi có tranh chấp và xung đột lợi ích thì thay vì tự xử như thời nguyên thủy, con người trong xã hội có nhà nước luôn trông chờ nhà nước với tư cách là bên thứ ba đứng ra phán quyết. Điều này đúng cả với hoạt động xét xử các vụ án hình sự bởi xét cho cùng tội phạm là đỉnh cao của sự xung đột giữa lợi ích cá nhân và lợi ích chung của toàn xã hội. Đúng cả với sự xung đột của cá nhân, của xã hội với công quyền. Đúng cả với các tranh chấp chính trị.
Xét xử các tranh chấp là hoạt động xuất hiện cùng với sự ra đời của nhà nước nhưng quyền tư pháp lại là khái niệm có tính lịch sử. Nó chỉ tồn tại khi và chỉ khi quyền lực nhà nước thực sự thuộc về nhân dân và quyền lực ấy được tổ chức theo học thuyết tam quyền phân lập như một “Kỹ thuật chính trị và liều thuốc bảo vệ tự do” . Phân quyền là một kỹ thuật hoàn hảo nhất cho đến thời điểm này để thực hiện quyền lực nhân dân một cách hiệu quả nhất và có thể tóm tắt nó bằng hai mệnh đề: sự phân công công nhiệm vụ giữa các cơ quan và sự sự độc lập của mỗi cơ quan.
Chính vì vậy, quyền tư pháp không chỉ hạn hẹp trong khuôn khổ của xét xử các tranh chấp mà nó còn là có nhiệm vụ kiểm soát hai nhánh quyền lực còn lại, giải thích pháp luật nhằm mục đích bảo vệ tự do của con người trên cơ sở công lý. Tất cả những hoạt động này đều phái sinh từ đặc tính của tư pháp là xét xử. Cũng như các quyền khác, quyền lực tư pháp cũng cần được giới hạn tron cơ chế phân quyền. Nghiên cứu tính nhân dân của quyền lực tư pháp không nằm ngoài việc khẳng định thêm một lần nữa quyền lực nhà nước nói chung và quyền tư pháp nói riêng có nguồn gốc từ quyền lực nhân dân và luôn thuộc về nhân dân. Tính nhân dân thể hiện trên các phương diện: mục đích, yêu cầu, cách thức tổ chức thực hiện quyền lực tư pháp.
2. Công lý, pháp luật và tính nhân dân của quyền tư pháp
PGS. TS Nguyễn Như Phát nhận định rằng: “Nếu nhánh quyền lực lập pháp và hành pháp thường được tổ chức và vận hành thoe mục tiêu công quyền thì tòa án được tổ chức vận hành theo mục tiêu vì công lý. Vì vậy, tư pháp độc lập sẽ là công cụ hữu hiệu để ngăn ngừa sự xâm hại trái pháp luật vào các quyền con người” . Thể hiện ý chí, quyền lực nhân dân của quyền tư pháp đó chính là nó có đảm bảo công lý hay không? Trong các giá trị mà loài người kiến tạo nên có những giá trị gọi là công bằng, lẽ phải. Các giá trị đó ban đầu là những giá trị đạo đức hay tôn giáo nhưng khi có nhà nước với vai trò là người nắm giữ quyền lực nhân dân trao gửi (bằng kết quả của đấu tranh gia cấp hay bằng khế ước xã hội) , nhà nước phải có trách nhiệm ghi nhận và bảo vệ các giá trị công bằng và lẽ phải và nó trở thành công lý. Như vậy, công lý là những giá trị về công bằng, lẽ phải được xã hội thừa nhận, thể hiện trong pháp luật. Công lý là đức hạnh thứ nhất cho các định chế xã hội cũng như chân lý là của các hệ thống tư tưởng. Một lý thuyết dù có lộng lẫy đến đâu nhưng nếu nó sai thì phải bị bãi bỏ cũng như luật pháp và các định chế có hoàn chỉnh đến đâu cũng cần phải dẹp bỏ nếu nó là bất công.
Thực tế cho thấy nếu nhà nước phản ánh đúng trong pháp luật và thực hiện bao gồm bảo vệ trên thực tế các giá trị trên thì công lý, pháp luật, nhà nước là một chỉnh thể. Ngược lại, công lý sẽ cứ tồn tại đâu đó hoặc là mơ ước của dân chúng, hoặc mỗi cá nhân đều tự hành xử để đạt được cái mà họ gọi là công lý. Cả hai đều là rất nguy hiểm đối với một xã hội và nhà nước văn minh.
Công lý và pháp luật luôn tồn tại song hành bởi trong xã hội có nhà nước thì không thể có công lý đứng ngoài nhà nước và pháp luật. Luật gia La mã Pascal đã nói: Công lý không có pháp luật thì yếu đuối, pháp luật không có công lý thì tàn bạo.
Bảo vệ cái giá trị có tên là công lý ấy không ai khác đó chính là là các tòa án với sự hậu thuẫn của một loại quyền lực nhà nước độc lập và được tổ chức khoa học chặt chẽ là quyền tư pháp. Tuy nhiên tòa án sẽ không bảo vệ và không phải là hiện thân của công lý nếu thiếu pháp luật Công lý liên quan mật thiết với pháp luật. Nói cách khác khác pháp luật là hiện thân của công lý nhưng công lý không đồng nhất với pháp luật, không phải có pháp luật tức là sẽ có công lý, thực thi đúng pháp luật tức là đã thực thi được công lý. Chỉ khi nào pháp luật chuyển tải được toàn bộ những giá trị công bằng, lẽ phải, nhân đạo…của công lý thì lúc đó pháp luật mới là biểu hiện của công lý. Ngược lại, một thứ pháp luật không bảo vệ cho kẻ yếu chỉ nhằm bảo vệ quyền lợi cho thiểu số kẻ mạnh có quyền lực ấy là thứ pháp luật bất công.
Phán quyết của quan tòa dựa trên cơ sở sự thật khách quan (chân lý) là tiêu chuẩn để người ta đánh giá phán quyết đó có đảm bảo công lý hay không. Tuy nhiên, lúc nào và ở đâu cũng đòi hỏi tòa án phải tìm cho được sự thật khách quan là điều không tưởng. Trong một số trường hợp xã hội buộc phải chấp nhận rằng đã có công lý khi tòa án đã làm hết cách trên cơ sở phạm vi pháp luật cho phép để ra phán quyết cho dù không tìm thấy sự thật khách quan. Ví dụ trong vụ án hình sự khi các cơ quan tiến hành tố tụng đã làm tất cả những gì luật cho phép nhưng không thể chứng minh một người phạm tội – về mặt pháp lý thì vẫn phải tuyên anh ta vô tội cho dù anh ta có thể phạm tội về mặt thực tế. Lúc đó cho dù có sự thật khách quan không thể tìm thấy nhưng không ai có thể cho rằng phán quyết đó là bất công. Bất công trong trường hợp này nếu có chỉ là bất công đối với một cá nhân nào đó nhưng với xã hội nó đã đảm bảo công bằng bởi một người chỉ bị buộc tội khi chứng minh một cách đầy đủ hợp pháp, không có bất cứ nghi ngờ nào rằng anh ta đã phạm một tội quy định trong bộ luật hình sự.
Công lý phụ thuộc vào ý thức pháp luật trong đó có thái độ, sự đánh giá của dân chúng đối với pháp luật, đối với cách hành xử của nhân viên công quyền về sự công bằng hay bất công. Ý thức pháp luật lại dựa trên trình độ phát triển của xã hội.
Áp dụng tập quán, án lệ chẳng qua là tòa án dựa vào tiêu chuẩn của công lý để phân xử trong trường hợp pháp luật thành văn còn khiếm khuyết.
Lý giải những vấn đề trên để giải quuyết vấn đề mà thực tiễn đặt ra: sự ngộ nhận hết sức nguy hiểm công lý là luật và luật là công lý. Bởi vì nếu hiểu như vậy thì nó sẽ dẫn đến hai hệ lụy:
+ Triệt tiêu việc người dân quyền giám sát việc thực hiện quyền lực tư pháp bởi nhiều ngwòi nhận thức rằng tòa áp dụng luật tức là đã thực thi công lý trong trường hợp pháp luật không thể hiện công lý hoặc không được áp dụng và giải thích trên tinh thần công lý
+ Trói tay chính tòa án khi họ không có quyền sáng tạo luật khi pháp luật còn thiếu sót hoặc yên tâm xử đúng phápluật là đã đảm bảo công lý
Đảm bảo quyền tiếp cận công lý:
Quyền tiếp cận công lý có người còn gọi là quyền tiếp cận công bằng (accès à là justice) là một khái niệm mới trong khoa học pháp lý và có những cách tiếp cận khác nhau. Trong khi các luật sư Mỹ cho rằng quyền tiếp cận công lý là quyền có luật sư về dân sự cho tất cả các cá nhân thì các luật sư Nam Phi nhấn mạnh đến vai trò của án lệ trong việc bảo vệ quyền của cá nhân trong tầng lớp yếu thế. Tòa án tiểu bang Washington ngày 3/12/1004 đã xác nhận Dự luật về việc áp dụng kỹ thuật điện tử để giúp công dân sử dụng quyền tiếp cận công lý. Theo dự luật này thì tiếp cận hệ thống công lý bao gồm các phương cách nhằm khiếu kiện hoặc bào chữa, thành lập hủy bỏ, nghĩa vụ pháp lý ở bất kỳ thẩm quyền xét xử nào; để tiếp nhận những thủ tục hoặc những thông tin cần thiết; gia tăng cơ hội để có một kết quả công bằng; để tiếp nhận thông tin về hoạt động của tòa án…
Các chuyên gia của Ủy ban Đảm bảo pháp lý cho người nghèo của Tổ chức Phát triển thế giới (UNDP) thì cho rằng quyền tiếp cận công lý là một trong bốn trụ cột của quá trình bảo vệ pháp lý cho người nghèo. Ủy ban này nhận xét: Điều tối quan trọnglà phải cải cách thể chế công và dỡ bỏ các rào cản pháp lý , hành chính vẫn đang ngăn trở người nghèo dành lấy quyền lợi của họ
Quyền tiếp cận công lý bao gồm năm yếu tố cơ bản đó là: Nhà nước pháp quyền, quyền tiếp cận thông tin pháp luật, quyền trợ giúp pháp luật và hệ thống tòa án công bằng và hiệu quả.
Sở dĩ tố tụng hình sự trong các nhà nước chiếm hữu nô lệ, phong kiến không đảm bảo được công lý chính bởi quan niệm của tầng lớp thống trị lúc đó coi công lý là ý trời, công lý là sự ban phát xin cho. Do đó, không có gì ngạc nhiên khi tố tụng hình sự thời trung cổ đi tìm công lý bằng những phương pháp tra tấn tội nhân phản khoa học, phi nhân tính như, sử dung lời thề, nhúng nước sôi, hơ trên lửa mà tội nhân vẫn sống mới được coi là vô tội. Jonh Rawls trong Luận thuyết về công lý đã đưa ra luận điểm nổi tiếng: Chỉ có công lý khi có tự do . Tất cả các quyền tự do của con người đều được nhà nước pháp quyền được bảo vệ chế độ bầu cử dân chủ, một hệ thống quyền lực kiểm soát lẫn nhau, đảm bảo sự tham dự thật sự của dân chúng vào quá trình làm luật và một nền tư pháp độc lập, hiệu quả .
2. Bảo vệ quyền con người
Khi trao quyền tự nhiên của mình cho nhà nước, dân chúng có hàm ý yêu cầu nhà nước với tư cách chủ thể nắm trong tay quyền lực đặc biệt, bảo vệ trước hết các quyền của mình. Chính vì vậy, tòa án thực hiện quyền tư pháp bảo vệ quyền con người cũng chính là thể hiện tính nhân dân của nó. Điều này chỉ trở thành hiện thực khi nhà nước đặt trong trạng thái pháp quyền một nhà nước mà ở đó quyền con người trong tất cả các lĩnh vực đều phải được bảo vệ.
Mặt khác nếu công lý là giá trị hướng đến cái chung thì quyền con người lại chú trọng đến cá nhân cụ thể. Không chứng minh được bị cáo có tội thì chỉ khẳng định về mặt pháp lý người đó không có tội. Nhưng thực tế có phải như vậy không lại là chuyện khác. Trong trường hợp này công lý đã có nhưng quyền con người không được đảm bảo. Đặt ra vấn đề này không có tham vọng đòi hỏi tìm ra cách giải quyết khi công lý và quyền con người xung đột mà chính là tìm cách để lấp đầy khoảng cách giữa khoảng cách giữa công lý và quyền con người gần với nhau nhất.
Quyền lực tư pháp chỉ mang tính nhân dân khi nó bảo vệ được quyền con người và trên thực tế có cơ chế hữu hiệu để thực hiện điều này.để nó được bảo vệ trong thực tế cần có những cơ chế cụ thể, vận hành tốt không chỉ nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho tòa án thực hiện nhiệm vụ bảo vệ quyền con người mà còn tạo điều kiện cho người dân tham gia tích cực vào quá trình bảo vệ đó. Mục đích cuối cùng là xử lý nghiêm minh mọi hành vi xâm phạm đến quyền con người và giải quyết các tranh chấp trong xã hội đạt được chuẩn công lý. Cơ chế bảo vệ quyền con người là khái niệm có ý nghĩa quan trọng trên nhiều phương diện. Nói đến cơ chế là nói đến cơ cấu tổ chức, quá trình vận hành của một hệ thống nào đó. Dưới góc độ pháp lý, quyền con người là tổng thể các quy định của Hiến pháp, pháp luật ghi nhận và bảo vệ nó và ở trong trạng thái tĩnh. Quá trình vật chất hóa, đưa các quy định đó vào trong thực tiễn bằng các cách thức, các bảo đảm khác nhau như vật chất, chính trị, tư tưởng, pháp lý, tổ chức chính là cơ chế bảo vệ quyền con người. Trên lĩnh vực quyền con người, cụm từ “cơ chế của Liên hợp quốc về quyền con người” (United Nations human rights mechanism) hay được sử dụng trong các tài liệu chuyên môn để chỉ bộ máy các cơ quan chuyên trách và hệ thống các quy tắc, thủ tục có liên quan do Liên hợp quốc thiết lập để thúc đẩy và bảo vệ các quyền con người . Cơ chế bảo vệ quyền con người bằng tòa án chính là cách thức, phương thức mà tòa án căn cứ vào quy định của pháp luật thực hiện việc xử lý các hành vi xâm phạm đến quyền con người và giải quyết các tranh chấp trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Điều này khác với cơ chế bảo vệ quyền con người bằng con đường hành chính, hay cơ chế bảo vệ xã hội.
3. Triển vọng cho quyền tư pháp ở Việt Nam
Nhà nước ta có tính nhân dân. Đó không chỉ là bản chất mà còn là tưởng chỉ đạo xuyên suốt cách thức tổ chức, thực hiện quyền lực nhà nước. Tuy nhiên, vấn đề đáng nói là việc làm thế nào để thể hiện tính nhân dân một cách cụ thể và hiệu quả nhất. Càng khó hơn khi việc thực hiện quyền lực nhân dân không giống với các nhà nước khác thể hiện ở việc phải đảm bảo những thuộc tính xã hội chủ nghĩa cũng như những điều kiện đặc thù khác của Việt Nam.
Thứ nhất: Quan niệm về quyền tư pháp chưa thống nhất
Cho đến trước Hiến pháp 1992, trong nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và Nhà nước CHXH chủ nghĩa Việt Nam quyền tư pháp không hề tồn tại trong nội dung, ngôn ngữ thể hiện của hiến pháp và trên thực tế nếu hiểu quyền tư pháp với đầy đủ nội dung của nó. Ở Việt Nam chỉ có hoạt động xét xử của các tòa án. Ngay cả hoạt động xét xử ấy cũng chưa bao quát hết tất cả các loại tranh chấp trong xã hội. vẫn còn nhưng tranh chấp giữa công quyền và công dân, tranh chấp giữa các cơ quan thực hiện quyền lực nhà nước với nhau chưa có Bởi lẽ nguyên tắc tập quyền được quán triệt sâu sắc trong cách thức tổ chức bộ máy nhà nước nói riêng hay thực hiện quyền lực nhân dân nói chung. Sự độc lập của tòa án chỉ bó hẹp là độc lập khi xét xử. Cả trên phương diện lý luận và thực tế đã chỉ ra rằng nếu không trở thành quyền lực độc lập với các nhánh quyền lực khác thì sự độc lập trong xét xử khó mà đảm bảo được.
Việc thừa nhận và thực hiện quyền tư pháp ở Việt Nam đã và đang dần được có triển vọng với những bước đi khá thận trọng cùng với việc thừa nhận kinh tế thị trường, giá trị của nhà nước pháp quyền. Với sự ra đời của thiết chế tòa án hành chính là sự đột phá thể hiện sự thay đổi đó và quyền tư pháp chính thức nhắc đến trong Hiến pháp sửa đổi 2001 và caau chuyện kiểm soát quyền lực đã được nhắc đến trong Nghị quyết của Đảng Cộng sẩn. Tuy nhiên. Tuy nhiên, không phải Hiến pháp nhắc đến quyền tư pháp là quyền tư pháp lập tức hiện diện. Quyền lực nhà về mặt tổ chức thực hiện vẫn tập trung vào Quốc hội nói cách khác là Quốc hội vẫn ôm trọn ba quyền này và có cơ quan nhà nước thực hiện quyền này trên cơ sở sự phân công của Quốc hội. Như vậy, quyền tư pháp theo tinh thần của Hiến pháp hiện hành chỉ là một quyền hạn của cơ quan (chưa chắc đã phải tòa án vì vấn đề này đang tranh luận) chứ không phải là cơ quan nắm quyền lực tư pháp. Bởi nếu là cơ quan thực hiện quyền tư pháp cơ quan ấy phải độc lập, tự quyết việc thực hiện các quyền đó. Thiết nghĩ vẫn đề quyền tư pháp có hay không phải được minh định.
Đây không phải đơn thuần là vấn đề học thuật mà còn có ý nghĩa tổ chức thực hiện quyền tư pháp trong các lĩnh vực cụ thể như tư pháp hình sự, tư pháp dân sự. Nếu quyền tư pháp tồn tại thực sự với đúng nghĩa của nó thì Viện kiểm sát không có lý do gì để có mặt trong vụ án dân sự. Bởi lẽ, việc phát hiện vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp có nhiều cơ chế như sự có mặt của luật sư, quyền kháng cáo của đương sự trên tinh thần tự do tự nguyện của các bên trong quan hệ dân sự và nguyên tắc hai cấp xét xử, giám đốc thẩm, tái thẩm …Trong tố tụng hình sự sẽ không có chuyện Tòa án có quyền khởi tố vụ án hình sự, chứng minh tội phạm- những công việc đáng lẽ của Viện Kiểm sát càng không có chuyện Viện Kiểm sát vừa là một bên buộc tội vừa kiểm sát hoạt động xét xử của tòa. Tư pháp Việt Nam phải cải cách vì hoạt động tố tụng của Việt nam chưa đáp ứng với nhu cầu đòi hỏi của thưc tế đề ra. Hàng loạt các vấn đề mà cải cách tư pháp đặt ra như lấy tòa án làm trung tâm, mở rộng tranh tụng và kể cả đảm bảo công lý, bảo vệ quyền con người sẽ không được thực hiện nếu việc tổ chức quyền lực nhà nước vẫn giữ nguyên như hiện nay. Ví dụ câu chuyện có chuyển Viện Kiểm sát thành Viện Công tố thuộc chính phủ hay không? Phụ thuộc vào chúng ta quan niệm thế nào là quyền tư pháp.
Thứ hai: Hành trình tiếp cận công lý còn trở ngại
Quyền tư pháp sẽ không thể hiện tính nhân dân nếu quá trình tiếp cận công lý của dân chúng không suôn sẻ. Tiếp cận công lý có thể coi là một cuộc hành trình của người dân. Hành trình đó có thể thuận lợi hoặc gian nan tùy thuộc vào những trở ngại mà người dân gặp phải ít hay nhiều. Những trở ngại này có thể nằm trong quy trình tố tụng, trong tổ chức, vận hành của bộ máy các cơ quan tư pháp, trong thái độ và ý thức trách nhiệm của nhân viên công quyền và trong cả ý thức pháp luật của người dân. Nhận diện và dỡ bỏ những trở ngại này, làm thông thoáng hành trình đi tìm công lý của người dân là việc không thể không làm nếu chúng ta muốn đảm bảo quyền tiếp cận công lý với tư cách là quyền con người trong nhà nước pháp quyền. Chúng tôi xin chỉ ra năm “chướng ngại vật” cản trở quá trình tiếp cận công lý sau đây:
1. Ở đâu đó, tư pháp chưa thực sự độc lập
Hiến pháp nước ta đã ghi nhận, trong pháp luật về tổ chức tòa án và pháp luật tố tụng đều tôn trọng quyền độc lập xét xử của tòa án. Tuy nhiên, trong một số quy định của pháp luật và thực tiễn vẫn có những yếu tố làm giảm đi tính độc lập xét xử của tòa án.

Về mặt tổ chức: Đó là việc bổ nhiệm thẩm phán theo nhiệm kỳ 5 năm chứ không phải là dài hơn hoặc chế độ thẩm phán suốt đời. Đó là vấn đề chế độ đãi ngộ đối với đội ngũ thẩm phán nhân viên tư pháp. Ngoài ra, việc tổ chức tòa án các cấp tương ứng với tổ chức hành chính cũng là yếu tố bị cho là không đảm bảo tính độc lập của tòa án. Tuy nhiên, tổ chức tòa án theo khu vực nếu không tính đến đặc thù của từng địa phương thì nhiều khi lại gây khó khăn cho việc tiếp cận tòa án của người dân. Bởi một lẽ ở một tỉnh miền núi vùng sâu, vùng xa, nếu tập trung tòa án các huyện vào một khu vực thì hành trình đến với tòa án và công lý sẽ gian gian nan hơn ít nhất là về chi phí về thời gian và tiền bạc. Kể từ năm 2002, công việc quản lý các tòa án địa phương do Tòa án tối cao đảm nhiệm thay cho Bộ Tư pháp. Điều này vẫn còn nhiều ý kiến băn khoăn về việc đảm bảo tính độc lập của tòa án bởi quan hệ hành chính với đặc trưng là phục tùng, trên- dưới, sẽ tác động tiêu cực đến quan hệ tố tụng lấy sự độc lập làm nền tảng. Để Bộ Tư pháp đảm nhiệm việc quản lý tòa án về lý thuyết là hợp lý và nhiều nước đang áp dụng. Sở dĩ, ở nước ta, công tác này chuyển về Tòa án Tối cao là do sự phối hợp trên thực tế giữa Tòa án và Bộ Tư pháp chưa đồng bộ và hiệu quả chứ không nằm ở cơ chế. Trọng tâm của cải cách tư pháp là tòa án; trọng tâm của cải cách tổ chức, hoạt động của tòa án là đảm bảo tính độc lập xét xử của tòa án và thẩm phán. Còn yếu tố nào quyết định tính độc lập này thì có lẽ chúng ta phải tiếp tục tìm và giải quyết cho được nếu muốn cải cách tư pháp đi vào thực chất.
2. Thẩm quyền còn chật hẹp
“Bất khẳng thụ lý” là đòi hỏi của xã hội với cơ quan nhà nước nói chung và tòa án nói riêng. Nội dung của nguyên tắc này là nhà nước không được nại ra bất cứ lý do gì để không giải quyết yêu cầu chính đáng của người dân. Đối với tòa án đó là không nại ra bất cứ lý do gì để từ chối giải quyết các tranh chấp trong xã hội. Ở một số nước ví dụ như ở Đức, thẩm quyền của tòa án rất rộng, không chỉ tài phán các tranh chấp, xử lý trách nhiệm mà còn giải quyết các tranh chấp giữa các đảng phái, các tổ chức chính trị và đặc biệt là tài phán hiến pháp.
Ở nước ta, thẩm quyền của tòa án chưa bao quát hết các tranh chấp trong xã hội. Đơn cử, Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính chỉ mới quy định 13 quyết định hành chính và hành vi hành chính công dân có quyền khiếu kiện trong thực tế quản lý nhà nước, những quyết định, hành vi hành chính trong đó có những quyết định, hành vi hành chính trái pháp luật gây thiệt hại cho công dân cần phải được tòa án giải quyết không chỉ bó hẹp như trong quy định trên của pháp luật. Chính vì vậy, tình trạng tòa án trả lại đơn cho đương sự vì lý do không thuộc thẩm quyền trong đó có không thuộc thẩm quyền về vụ việc là rất nhiều. Khi người dân có tranh chấp mà không tìm được nơi phân xử hoặc phân xử không bằng con đường tư pháp, thì không thể nói quyền tiếp cận công lý đã được đảm bảo.
3. Thủ tục còn rườm rà
Người dân tiếp cận công lý bằng việc thực hiện các thủ tục tố tụng. Điều đó nói lên vai trò của luật thủ tục đối với việc tiếp cận công lý. Nếu chỉ chú trọng luật nội dung mà bỏ qua luật thủ tục thì không khác gì mua xe mà không làm đường. Trong thời gian qua, các luật về thủ tục ở nước ta đã đươc quan tâm xây dựng và hoàn thiện. Tuy nhiên, rà soát hệ thống pháp luật tố tụng vẫn tìm thấy những quy định gây trở ngại cho quyền tiếp cận công lý. Ví dụ trong Bộ luật Tố tụng dân sự có quy định người dân khi khởi kiện kèm theo đơn khởi kiện phải có giấy tờ chứng minh yêu cầu khởi kiện. Quy định này khiến cho thẩm phán có thể áp dụng tùy tiện làm khó dễ cho người dân bởi giấy tờ chứng minh quyền khởi kiện không phải bao giờ cũng có thể nộp ngay cho tòa án và không biết thế nào là đủ. Chính vì vậy, có người cho rằng đang có tồn tại chế độ “thủ tục trị”thay cho pháp trị.
Các luật sư cũng hay than phiền về thủ tục cấp giấy chứng nhận bào chữa cho luật sư và coi đây là thứ “giấy phép con” của các cơ quan tiến hành tố tụng. Để có giấy phép luật sự phải có 5 loại giấy tờ trong khi luật quy định chỉ cần có 3 (đơn yêu cầu được bào chữa, thẻ Luật sư và giấy giới thiệu của tổ chức hành nghề luật sư). Chưa kể trong thực tế có những vụ bị can, bị cáo từ chối luật sư“một cách khó hiểu”. Quyền tiếp cận công lý trong vụ án hình sự bị cản trở bởi thủ tục hành chính này khi muốn bào chữa cho thân chủ, luật sư phải có tới 3 giấy phép của cơ quan điều tra, viện kiểm sát, và tòa án.
4. Thiếu người đồng hành và và trợ giúp pháp lý
Không ai có thể biết được hết các quy định pháp luật cũng như các thủ tục tố tụng. Chính vì vậy, trong quá trình tiếp cận công lý, người dân nhất là những đối tượng yếu thế trong xã hội cần có sự hỗ trợ từ nhiều phía. Tình trạng thiếu hụt các dịch vụ pháp lý ở nước ta vẫn còn trầm trọng. Hiện nay, cả nước có khoảng 5.800 luật sư trên 86 triệu dân. Chỉ có 10% vụ án có luật sư tham gia và chỉ tập trung ở những vùng kinh tế- xã hội phát triển. Phát triển đội ngũ luật sư, xã hội hóa hoạt động trợ giúp pháp lý, chú trọng đến sự thiếu hụt pháp lý của những người yếu thế là biện pháp người dân tiếp cận công lý.
5. Phẩm chất của nhân viên tư pháp:
Ở đây bao gồm trình độ chuyên môn nghiệp vụ và tinh thần trách nhiệm. Một thẩm phán trình độ năng lực yếu thì dễ “biến một điều luật tốt thành một điều luật chẳng ra gì” (Xixeron) và đương nhiên người dân sẽ không thể tìm thấy công lý trong những phán quyết của họ. Bên cạnh đó, sự vô trách nhiệm, tệ hại hơn là tham nhũng, cửa quyền của đội ngũ nhân viên tư pháp cũng là rào cản rất lớn đối với quá trình tiếp cận công lý của người dân. Những nhân viên tư pháp, thẩm phán tham nhũng, kém cỏi về đạo đức có thể coi là những “lục lâm thảo khấu”, rình rập trên con đường tiếp cận công lý của dân chúng.
Để quyền tiếp cận công lý dược đảm bảo và thực hiện thì bên cạnh vấn đề xây dựng nhận thức chung của xã hội với công lý nhất thiết cần phải khai thông lộ trình di tìm công lý của người dân bằng việc tháo gỡ những trở ngại trên./.


BẢO VỆ QUYỀN CON NGƯỜI BẰNG CÁC NGUYÊN TẮC CHUYÊN BIỆT CỦA LUẬT HÌNH SỰ

Đã từng có những phiên tòa thế này

Chuyên đề viết cho dự án Diễn đàn giáo dục quyền con người thuộc Chương trình “Quản trị công và cải cách hành chính” theo Hiệp định tài trợ giữa Chính phủ Đan Mạch và Chính phủ Việt Nam, do Viện Khoa học xã hội Việt Nam thực hiện. Tác giả giữ bản quyền. Đề nghị quý vị ghi rõ nguồn nếu trích dẫn và tham khảo

Đinh Thế Hưng
Viện Nhà nước và Pháp luật

Chúng ta đang xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân. Một nhà nước mà ở đó, quyền con người được tôn trọng và bảo vệ không chỉ dừng lại ở các tuyên bố chính trị, ghi nhận trong Hiến pháp, pháp luật mà còn được bảo vệ trong thực tế. Quyền con người là một giá trị thiêng liêng bất khả tước đoạt. Nó hiện hữu trong nhiều lĩnh vực của đời sống trong đó có lĩnh vực hình sự và tố tụng hình sự. Không phổ biến, không rộng lớn, không diễn ra hàng ngày hàng giờ như các lĩnh vực hành chính, kinh tế, môi trường…., nhưng có thể nói, quyền con người trong lĩnh vực này dễ bị xâm phạm và bị tổn thương nhất và hậu quả để lại cũng nghiêm trọng nhất khi nó động chạm đến quyền được sống, quyền tự do và sinh mệnh chính trị của một cá nhân. Bởi lẽ, với việc nhà nước xác định thế nào là tội phạm, các biện pháp cưỡng chế dành cho nó và quy định trình tự tự, thủ tục đưa một người ra xử lý trước pháp luật khi họ bị coi là tội phạm luôn thể hiện đậm đặc tính quyền lực nhà nước với sức mạnh cưỡng chế nhà nước, với sự thiếu quân bình về thế và lực của các bên tham gia qua hệ TTHS mà sự yếu thế luôn thuộc về những người bị buộc tội. Chính vì vậy, lĩnh vực hình sự và tố tụng hình sự, trong bất cứ nhà nước nào đều được xếp vào “nhóm nguy cơ cao” khi người ta nói đến vấn đề bảo vệ quyền con người.
Đấu tranh, phòng chống tội phạm nhằm bảo vệ lợi ích của nhà nước và của cá nhân trong xã hội là nhiệm vụ của bất kỳ nhà nước nào. Công việc đó không thể thực hiện một cách tùy tiện mà phải dựa trên cơ sở pháp lý nhất định. Đó là nhà nước ban bố một hệ thống pháp luật hình sự ấn định rõ thế nào là tội phạm, khi nào một người bị trừng trị bằng hình phạt trừng trị như thế nào và bằng cách nào? Nhắc đến hệ thống pháp luật hình sự và tố tụng hình sự- cơ sở pháp lý của việc đấu trang phòng chống tội phạm bảo vệ quyền con người không thể bỏ qua hệ thống các nguyên tắc của nó. Đây là hệ thống các quan điểm làm nền tảng, xuyên suốt quá trình xây dựng và áp dụng pháp luật hình sự và tố tụng hình sự. Các nguyên tắc đó được xây dựng dưới sự tác động của nhiều yếu tố. Trong đó có một yếu tố không thể thiếu đó là sự phát triển của những tư tưởng văn minh, tiến bộ, nhân đạo của nhân loại trong việc bảo vệ quyền con người.
1. Quyền con người trong lĩnh vực hình sự và tố tụng hình sự
Tội phạm là hiện tượng xã hội, nó chỉ xuất hiện từ khi có nhà nước. Quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lê nin về nhà nước chỉ ra rằng pháp luật luôn có tính giai cấp thì pháp luật hình sự và tố tụng hình sự thể hiện đậm đặc nhất tính giai cấp. Tuy nhiên, cũng như pháp luật nói chung, ngoài tính giai cấp luật hình sự còn có tính xã hội. Muốn tồn tại, nhà nước nào đều phải cần sự ổn định và trật tự và trên nền tảng trật tự đó, xã hội vận động và phát triển. Chính vì vậy, việc quy định tội phạm và hình phạt ngoài việc bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị nhà nước không thể bỏ qua nhiệm vụ bảo vệ các cá nhân trong xã hội trước sự xâm phạm của tội phạm. Nói cách khác, luật hình sự và tố tụng hình sự trong nhà nước pháp quyền cũng đứng trước đòi hỏi quan trọng nhất là bảo vệ được quyền con người.
Trong bất cứ nhà nước nào, tội phạm luôn là hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến lợi trước hết đến của giai cấp thống trị. Đồng thời nó cũng xâm phạm đến quyền con người. Đó là những quyền được sống, quyền tự do, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và các quyền lợi ích khác của con người. Việc bảo vệ quyền con người trong lĩnh vực hình sự được xem xét ở hai khía cạnh. Đó là quyền con người của cá nhân sống trong xã hội đòi hỏi cần được bảo vệ trước hành vi xâm phạm của tội phạm và quyền của những người vi phạm pháp luật xâm phạm đến quyền của người khác, khi nào và ở mức độ nào thì họ bị coi là tội phạm. Xét dưới góc độ bảo vệ quyền con người, đây là vấn đề không thể bỏ qua khi quy định về tội phạm và hình phạt của luật hình sự.
Con người có quyền được sống trong môi trường an toàn trong đó có sự an toàn pháp lý. Sẽ là xã hội bất công nếu con người có thể bị coi là tội phạm và phải chịu hình phạt bất cứ lúc nào theo ý muốn chủ quan của nhà nước. Chính vì vậy, quyền con người trong lĩnh vực hình sự trước hết là quyền không bị coi là có tội một cách tùy tiện mà phải dựa trên cơ sở luật định. Có nghĩa là không một cơ quan, cá nhân nào được kết tội một người nếu họ không phạm một tội mà luật hình sự đã dự liệu trước. Luật pháp nói chung và luật hình sự nói riêng là công cụ giới hạn và kiềm chế mọi mặt đối nhà nước khi nhà nước muốn coi một hành vi nào đó là nguy hiểm và trừng phạt người thực hiện hành vi đó.
Tội phạm luôn gắn liền với hình phạt. Tuy nhiên, loại hình phạt, mức hình phạt như thế nào để bảo vệ quyền con người cũng vấn đề đăt ra đối với lĩnh vực hình sự. Quyền con người trong lĩnh vực hình sự đòi hỏi việc xác định loại và mức hình phạt phải tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội.
Xử lý tội phạm trước pháp luật – tố tụng hình sự là công việc đầy khó khăn bởi đây là nhiệm vụ cơ quan nhà nước chứng minh tội phạm theo công thức: Ai? cái gì? Ở đâu? Như thế nào? Bao giờ…. Chính vì vậy, người ta cũng còn có sự lo ngại khi trong quá trình tố tụng hình sự, quyền con người của những người bị buộc tội và những người tham gia tố tụng khác dễ bị xâm phạm từ phía công quyền. Quyền con người trong lĩnh vực tố tụng hình sự bao gồm các quyền: Quyền được xét xử công bằng bởi một thủ tục TTHS và tòa án công bằng, công khai
– Quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe, danh dự , nhân phâm và quyền tự do cá nhân khác. Mọi trường hợp áp dụng các biện pháp cưỡng chế TTHS phải tên cơ sở luật định
– Quyền được suy đoán vô tội
– Quyền được bào chữa và biện hộ, quyền không bị xét xử quá mức chạm trễ.
– Người chưa thành niên phải được áp dụng thủ tục TTHS đặc biệt
– Quyền kháng cáo bản án để xét xử phúc thẩm, quyền được nhanh chóng minh oan. Quyền không bị kết tội hai lần về cùng 1 hành vi….
– Các quyền con người trong thi hành án hình sự và sau xét xử..
Những quyền trên là những quyền của người bị buộc tội- đối tượng quan trọng nhất cần bảo vệ trong TTHS. Tuy nhiên, tham gia vào quá trình TTHS không chỉ có những người bị buộc tội mà còn nhiều người khác mà lâu nay khi nghiên cứu về quyền con người trong TTHS, chúng ta hay ít chú ý đó là quyền của nạn nhân của tội phạm (người bị hại), quyền của người làm chứng và những người liên quan khác, quyền con người của những người tiến hành tố tụng như điều tra viên, công tố viên và thẩm phán. Những người này họ cũng có quyền con người của họ như quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, danh dự, nhân phẩm, quyền được bảo vệ các quyền chính trị, dân sự, kinh tế của mình bằng con đường TTHS.
2. Các nguyên tắc chuyên biệt của luật hình sự và tố tụng hình sự với việc bảo vệ quyền con người
Đấu tranh, phòng ngừa tội phạm nhằm bảo vệ quyền con người đồng thời phải bảo vệ quyền con người là công việc hết sức khó khăn và phức tạp. Trong đó pháp luật hình sự, tố tụng hình sự là những công cụ hữu hiệu nhất. Để làm được nhiệm vụ này, đòi hỏi luật hình sự và tố tụng hình sự phải dựa trên những quan điểm chỉ đạo nhất định hay còn gọi là những nguyên tắc. Nguyên tắc của pháp luật nói chung và nguyên tắc của luật hình sự nói riêng vừa có tính khách quan vừa có tính chủ quan. Nó có quá trình phôi thai, phát triển và chính thức được thừa nhận và thể hiện trong pháp luật. Sự phát triển của các nguyên tắc của luật hình sự và tố tụng hình sự gắn liền với sự phát triển mọi mặt của xã hội loài người nói chung và của tư tưởng về quyền con người. Trong lĩnh vực hình sự, lịch sử cho thấy đã có lúc, có nơi quyền con người bị chà đạp khi việc coi một người nào đó là tội phạm và áp dụng hình phạt cho họ một cách hết sức tùy tiện, chủ quan và cảm tính. Việc áp dụng các chế tài hình sự tàn khốc chỉ nhằm mục đích trừng trị, cao hơn thế nhằm bảo vệ lợi ích của giai cấp thống trị. Trong lĩnh vực tố tụng hình sự, quyền của người bị buộc tội cũng bị quyền con người trong đó có tính mạng, sức khỏe phẩm giá của con người bị chà đạp trong các phiên tòa man rợ, phi nhân tính thời trung cổ, phong kiến, phiên tòa “giàn thiêu” giáo hội
Ngược lại, khi xã hội đó phát triển đến trình độ cao, quyền con người ngày càng đựơc tôn trọng và bảo vệ thì những tư tưởng pháp lý tiến bộ chắc chắn sẽ được ghi nhận là những nguyên tắc của pháp luật
2.1 Nguyên tắc không có luật thì không có tội phạm và hình phạt (nullum crimell, nulla poena, singe lege)
Nguyên tắc này ra đời là kết quả cuộc đấu tranh của loại người chống lại sự tùy tiện của nhà nước trong việc xác định tội phạm và hình phạt được nhà triết học Phơ bách hoàn thiện vào thế kỷ 18 và trở thành nguyên tắc của luật hình sự nhiều nước trên thế giới. Nguyên tắc này lần đầu tiên được viết ra trong điều 8 của Tuyên ngôn Nhân quyền Pháp năm 1789, và tái xuất hiện trong Hiến pháp Pháp năm 1791, và được duy trì trong Luật hình sự Pháp (Code Pénal). Nó trở thành một phần của luật Bavaria năm 1813, khi Phơ bách sáng tạo ra câu châm ngôn tiếng Latinh nullum crimen sine lege, nulla poena sine lege (không là tội phạm mà không có luật, không có hình phạt mà không có luật). Nó được đưa vào Luật hình sự Đức năm 1871 và được bảo đảm bởi Hiến pháp Weimar. Một điều rõ ràng là nguyên tắc này được chấp nhận rộng rãi tại châu Âu vào cuối thế kỷ 19. Nguyên tắc này nói rằng không thể coi là tội phạm, và cũng không có hình phạt được đưa ra, mà không có sự vi phạm luật hình sự đang có vào thời điểm đó. Một kết quả khác của nguyên tắc này là chỉ có những hình phạt nào đã được quy định cho hành vi phạm tội vào thời điểm nó được thực hiện mới có thể được áp đặt. Cho dù còn có những hạn chế nhất định như quá nhấn mạnh mặt hình thức của tội phạm nhưng không thể phủ nhận, luật hình sự tư sản đã có những tiến bộ vượt bậc trong việc bảo vệ quyền con người trong lĩnh vực hình sự. Thể hiện ở việc nó ấn định trách nhiệm của nhà nước trong việc đấu tranh, phòng ngừa tội phạm bảo vệ lợi ích của xã hội, quyền, lợi ích của cá nhân bằng pháp luật. Mặt khác, nó ngăn ngừa sự chuyên quyền, độc đoán và tùy tiện của nhà nước trong việc quy tội và trừng trị người có vi phạm pháp luật và xâm phạm đến quyền con người của họ. Đồng thời nó khẳng định giá trị của pháp luật với tư cách là thước đo, chuẩn mực khi đánh giá hành vi của con người, làm cơ sở cho mỗi cá nhân biết mình bị cấm làm những gì. Điều đó đem đến sự an toàn pháp lý cho cá nhân trong xã họi trước tình trạng bị “tội phạm hóa bất cứ lúc nào”. Đó cũng là cách để họ tự bảo vệ và yêu cầu nhà nước bảo vệ quyền con người của mình. Đây cũng là nguyên tắc đem đến sự cân bằn giữa chức năng trấn áp và bảo vệ của luật hình sự.
Dưới góc độ bảo vệ quyền con người, nguyên tắc này có các nội dung sau đây:
– Tội phạm – cơ sở của trách nhiệm hình sự và hình phạt- biểu hiện của trách nhiệm hình sự phải được quy định trong luật hình sự. Nói cách khác: Tội phạm là hành vi do pháp luật hình sự quy định. Trách nhiệm hình sự và hình phạt chỉ phát sinh khi có hành vi như vậy .Bên cạnh đó, ranh giới giữa hành vi vi phạm pháp luật khác và tội phạm phải được xác định rõ ràng
Từ nguyên tắc không ai bị phạt ngoại trừ luật đã qui định hình phạt đó, phát sinh ra nguyên tắc phụ: nguyên tắc bất hồi tố của hình luật. Nguyên tắc này có nghĩa là một luật mới không thể áp dụng cho những vi phạp cũ nếu quốc hội không minh thị điều này và điều này không trái với quyền căn bản cũa công dân.
Những qui tắc, những điều khoản trong hình luật, các định chế (Toà án, cơ quan nhà nước) và thủ tục (tố tụng, điều tra, cảnh sát) áp dụng đều phải có nguồn gốc luật pháp và hợp pháp. Nội dung này nhằm giới hạn quyền lực của nhà nuớc cũng như các hành vi của các viên chức chính quyền. Đây cũng là biểu hiện của nguyên tắc của nhà nước pháp quyền: Nhà nước chỉ được làm những gì luật pháp cho phép, đối lại, người dân được làm tất cả những gì luật pháp không ngăn cấm.
Từ những nội dung trên đặt ra yêu cầu cần thiết phải có đạo luật luật qui định tội phạm và hình phạt. Một đạo luật quy định tội phạm và hình phạt phải chứa đựng những nội dung chính trị pháp lý, có tính chất xác thực đầy đủ, chính xác và đặc thù. Một văn bản pháp luật thiếu chính xác đến nỗi không có thể làm kim chỉ nam cho các các cuộc tranh luận pháp luật trước Toà án vừa không bảo vệ được lợi ích của nhà nước quyền con người nói chung mà quyền con người của những người bị buộc tội cũng không bảo đảm được.
Ở Việt Nam, một đạo luật thành văn quy định về tội phạm và hình phạt đã xuất hiện khác sớm. Điều đó cho thấy, tuy không phải là nguyên tắc nhưng việc xử lý tội phạm phải căn cứ vào quy định của pháp luật đã hiện diện. Điều 683, Luật Hồng Đức thời Lê thế kỷ 15 đã quy định: “Các quan xử án, trong các bản án, chỗ luận tội phải dẫn đủ chính văn và cách thức của luật lệ; làm trái thì bị xử phạt”. Theo điều 685 luật này: Những chế sắc của vua luận tội gì chỉ là xét xử nhất thời, chứ không phải là sắc lệnh vĩnh viễn, thì không được viễn dẫn sắc lệnh ấy để xử đoán việc sai. Nếu ai viện ra xét xử không đúng thì bị khép tội làm sai luật”. Tinh thần nullum crimell, nulla poena, sine lege còn thể hiện ở điều 722: Hình quan định tội danh, chiểu trong luật đã có chính điều lại tự ý thêm bớt, hay viện dẫn tội thêm thêm bớt tội người khác một bậc”.
Điều 4 Bộ hình luật Canh cải cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 quy định: Các thứ thứ trong tội, khinh tội và vi cảnh tội gì phát sinh khi chưa có luật định hình phạt thì chưa bắt tội”
Tuy chưa thoát ra khỏi khuyết điểm của của luật hình phong kiến phương Đông như bảo vệ triệt để quyền lợi của giai cấp thống trị nhưng rõ ràng đạo luật trên đã tự hạn chế sự lạm quyền, tùy tiện của nhà nước trong việc quy định tội phạm và hình phạt cũng như thực tiễn áp dụng nó.
Sau khi dành được độc lập, trong một thời gian dài, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và CHXHCN Việt Nam không có bộ luật hình sự hoàn chỉnh. Việc xử tội phạm dựa trên những văn bản dưới luật hết sức tản mạn, thiếu thống nhất nhiều quy phạm về tội phạm nằm trong văn bản của cơ quan quản lý nên buộc phải chấp nhận việc áp dụng tương tự về luật. Ở góc độ nào đó, có thể nói nguyên tắc không có luật thì không có tội phạm và hình phạt chưa được thể hiện và thực thi một cách triệt để và hậu quả logic là việc bảo vệ quyền con người trong lĩnh vực hình sự chưa được như mong muốn.
Năm 1985, nhà nước CHXHCN Việt Nam ban hành Bộ luật hình sự đầu tiên trong đó long trọng khẳng định: Chỉ người nào phạm một tội đã được bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự. Tại điều 8 của Bộ luật này về khái niệm tội phạm bên cnhj nhiều dấu hiệu cũng quy định: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong bộ luật hình sự. Như vậy, nguyên tắc nullum crimel, nulla poena, sige lege đã được luật hình sự Việt nam ghi nhận như là một nguyên tắc cơ bản. Tư tưởng của nguyên tắc này đã thể hiện xuyên suốt các quy định của luật hình sự về tội phạm, hình phạt ở phần chung cũng như phần các tội phạm cụ thể. Việc ban hành bộ luật hình sự thống nhất và ghi nhận các nguyên tắc đã được loài người thừa nhận trong đó có nguyên tắc không có luật không có hình phạt đã đánh dấu bước phát triển quan trọng trong việc bảo vệ quyền con người bằng luật hình sự
2.2 Nguyên tắc suy đoán vô tội (Presomtion of innonce)
Đây là một trong những thành tựu vĩ đại của nhân loại trong việc bảo vệ quyền con người và chứng minh tội phạm trong TTHS. Nó ra đời từ đòi hỏi gay gắt của xã hội châu Âu thế kỷ 18 là cần phải có biện pháp hữu hiệu chống lại sự chuyên quyền, độc đoán, chà đạp lên quyền con người trong tố tụng hình sự.
Cội nguồn của nguyên tăc suy đoán vô tội có từ thời từ thời Lamã khi người ta cho rằng trách nhiệm chứng minh thuộc về bên tố cáo và chỉ áp dụng trong tố tụng dân sự .Tư tưởng này chỉ trở thành nguyên tắc pháp luật khi khi cách Cách mạng tư sản Pháp bùng nổ đánh dấu một chiến thắng trong cuộc đấu tranh không ngừng nghỉ của nhận loại để đạt cho kỳ được các quyền con người. Tuyên ngôn nhân quyền 1789 long trọng tuyên bố: “Mọi người đều được coi là vô tội cho đến khi bị tuyên bố phạm tội nếu xét thấy cần thiết phải bắt giữ thì mọi sự cưỡng bức vượt quá mức cần thiết cho phép đều bị pháp luật xử lý nghiêm khắc”. Suy đoán vô tội được ngợi ca là nguyên tắc vàng trong tố tụng hình sự , một thành tựu vĩ đại của văn minh nhân loại trong việc vệ quyền con người, và chứng minh trong tố tụng hình sự đã được nhiều nhà nước quy định là nguyên tắc cơ bản trong luật tố ttụng hình sự của mình .Nguyên tắc này có những nội dung sau đây:
– Người bị tình nghi, bị can, bị cáo được coi là không có tội cho đến khi có bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của toà án
– Nghĩa vụ chứng minh thuộc về bên buộc tội, người bị tình nghi, bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh sự vô tội của mình
– Mọi nghi ngờ về pháp luật và chứng cứ đều phải được giải thích có lợi cho người bị tình nghi, bị can, bị cáo.
– Bản án không được dựa trên những chứng cứ giả định
Nguyên tắc này được xem xet dưới góc độ đối xử và chứng minh:
Dưới góc độ đối xử: Với việc khẳng định không được coi người bị tình nghi là có tội và đối xử với họ như người có tội, khẳng định trách nhiệm chứng minh thuộc bên buộc tội…nguyên tắc này đem đến sự quân bình trong thế và lực giữa một bên buộc tội là các cơ quan THTT hùng mạnh được hậu thuẫn bằng quyền lực nhà nước và bên kia yếu thế hơn là người bị buộc tội. Chúng ta đang mở rộng tranh tụng. Nhưng tranh tụng vẫn chỉ là hình thức và không có hiệu quả nếu vẫn còn sự chênh lệch quá lớn gữa bên buộc tội và gỡ tội và đặc biệt thiếu vắng vai trò điều khiển, phán xét của tòa án độc lập, không thiên vị
Dưới góc độ chứng minh: Suy đoán vô tội là một biểu hiện của phương pháp chứng minh bằng phản chứng (tiếng la tinh là Reductio ad absudum- Suy giảm đến sự vô lý). Theo đó, thay vì khẳng định và chứng minh trực tiếp một người nào đó có tội, người ta đặt ra một giả thiết ngược lại bằng một giả định vô tộ. Khi giả định vô tội này chưa bị bác bỏ hoàn toàn và thuyết phục thì nó vẫn luôn đúng. Chính vì vậy, suy đoán vô tội không phải chỉ có một vai trò là bảo vệ quyền của người bị buộc tội mà nó còn đem đến một phương pháp chứng minh tội phạm rất hữu hiệu. Vấn đề là người tiến hành tố tụng có đủ khả năng vận dụng nó hay không.
Luật tố tụng hình sự Việt Nam chưa bao giờ nghi nhận cụ thể suy đoán vô tội như là một nguyên tắc cơ bản trong hệ thống nguyên tắc khá đồ sộ của mình. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là những tinh hoa của văn minh nhân loại, những tư tưởng pháp lý tiến bộ không được luật tố tụng hình sự của chúng ta tiếp thu cũng như không có nghĩa nguyên tăc suy đoán vô tội là xa lạ với pháp luật tố tụng hình sự xã hội chủ nghĩa. Trong các văn bản pháp luật dưới luật trước khi có bộ luật TTHS 1989 , tư tưởng của nguyên tắc này đã được đề cập. Chẳng hạn tại Thông tư số 2252 HCTP ngày 29.10 .1953 hướng dẫn: “Không nên có định kiến rằng hễ người bị truy tố là nhất định có tội mà đối xử như người có tội; bị can trước khi tuyên án đựoc coi lnhư vô tội để toà án có thái độ hoàn toàn khách quan” . Thông tư số 16 TATC ngày 27/9/1974 của Toà án nhân dân tối cáo đã đưa ra hướng dẫn có tính nguyên tắc trong hoạt động xét xử của toà án: Việc xét hỏi tại phiên toà nhằm trực tiếp và công khai thẩm tra lại các chứng cứ của vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử phải xét hỏi một cáh đầy đủ, khách quan, cần tránh tư tưởng quá tin vào hồ sơ mà coi nhẹ tác dụng của việc xét hỏi tại phiên toà, hoặc cho rằng xét hỏi chỉ nhằm buộc tội bị can phải nhận những lời mà họ đã khai ở cơ quan điều tra. Các Bộ luật tố tụng hình sự 1989 và 2004, tư tưởng cốt lõi của nguyên tắc này đã được thể hiện (Điều 9, 10 Bộ luật TTHS 1989 và điều 10, 11 Bộ luật TTHS 2004), đó là: Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án có hiệu lực của toà án và trách nhiệm chứng minh thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng. Những tư tưởng cốt lõi trên của nguyên tăc suy đoán vô tội đã được thể hiện tất các chế định của luật tố tụng hình sự Việt Nam
Tuy nhiên, luật TTHS Việt Nam vẫn còn có những dè dặt nhất định khi không khẳng định một cách dứt khoát, rõ ràng nguyên tắc này. Từ đó dẫn đến việc thể hiện tư tưởng tiến bộ của suy đoán vô tội trong các quy định cụ thể còn mờ nhạt và thực tế cho thấy trong một số trường hợp nó bị vi phạm ở các mức độ khác nhau. Chính vì vậy, ghi nhận cụ thể đầy đủ, thể hiện rõ trong các quy định và thực hiện nghiêm chỉnh nguyên tắc suy đoán vô tội là đòi hỏi đố luật với tố tụng hình sự trong nhà nước pháp quyền.
2.3 Nguyên tắc tranh tụng
Tranh trụng được hiểu là: “Các bên phải được triệu tập để biết yêu cầu chứng cứ và lý lẽ của bên kia; được đưa ra chứng cứ yêu cầu và phản bác yêu cầu, chứng cứ và lý lẽ của đối phương” . Như vậy, tranh tụng trong tố tụng được hiểu là hoạt động bình đẳng, công khai, dân chủ của bên buộc tội và bên gỡ tội được đưa ra phản bác chứng cứ, lý lẽ buộc tội và gỡ tội. Tranh tụng được lật tố tụng hình sự nhiều nước coi là một trong những nguyên tắc cơ bản. Xuất phát từ hiệu quả của nó trong việc giải quyết vụ án hình sự. Từ trước đến nay, tranh tụng chưa bao giờ được thừa nhận là nguyên tắc của luật TTHS Việt Nam hiện hành có chứa một vài yếu tố của tranh tụng bởi tố tụng hình sự Việt Nam là kiểu tố tụng thẩm vấn. Nguyên tắc tranh tụng được thể hiện qua các nội dung dưới đây:
Có sự tham gia mang tính chất bình đẳng giữa bên buộc tội và bên gỡ tội. Thể hiện ở việc cùng với sự xuât hiện của sự buộc tội thì cũng là sự xuất hiện của quyền bào chữa. Trong tố tụng, tranh tụng tòa án giữ vai trò trung tâm như một trọng tài và phán quyết của tòa án dựa trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Trong tố tungj tranh tụng quyền lực không thể tập trung vào một bên mà có sự san xẻ giữa công tố viên – thẩm phán và người bào chữa. Trong đó vai trò của người bào chữa được đề cao ít nhất là bằng với công tố viên. Tố tụng tranh tụng không mong đợi sự hợp tác của bị cáo, bị can, bị cáo có quyền im lặng trong suốt một quá trình tố tụng. Trách nhiệm chứng minh sự tội phạm thuộc về bên buộc tội. Mọi chứng cứ, lý lẽ đều được đưa ra xem xét, thẩm định tại phiên tòa.
Dưới góc độ đối xử , nguyên tắc suy đoán vô tội khẳng định không ai bị coi là có tội trước khi có bản án của tòa án và đòi hỏi các cơ quan THTT phải tôn trọng các quyền cơ bản của con người. Muốn thực hiện được điều này không thể không có cơ chế để thực hiện. Việc thực hiện nguyên tắc tranh tụng với mục đích cao nhất là không phải là phát hiện nhanh chóng tội phạm, không để lọt tội mà là trước hết phải bảo vệ được con người. Muốn thực hiện được điều này không thể không có cơ chế để thực hiện. Việc thực hiện nguyên tắc tranh tụng với mục đích cao nhất là không phải là phát hiện nhanh chóng tội phạm, không để lọt tội phạm mà trước hết phải bảo vệ được con người. Đúng như chủ tịch Ủy ban cảnh sát Quốc Tế Florent Louvage đã từng nói: “Nhất định phải thành công với bất cứ giá nào là một khẩu hiệu phải dẹp đi. Lắm khi một cuộc điều tra thất bại còn hơn là thu được kết quả bằng những phương sách đáng ngờ …… Một xã hội văn minh thường bị xúc phạm vì phẩm giá con người bị chà đạp hơn là vì bỏ lỡ một kẻ lưu manh trốn thoát” . Điều này thể hiện ở việc nguyên tắc tố tụng tạo cơ hội ngang nhau cho bên buộc tội và bên gỡ tội và quyền của bị cáo được triệt để tôn trọng.
Dưới góc độ chứng minh, tố tụng tranh tụng tạo điều kiện cho bên gỡ tội quyền tối đa để chứng minh sự vô tội của mình. Bị cáo và người bào chữa có quyền điều tra , thu thập chứng cứ để gỡ tội và các chứng cứ này cũng được xem xét bình đẳng với các chứng cứ buộc tội. Tạo cơ hội cho các bên tranh luận dân chủ. Đây là cách tốt nhất để tìm ra bản chất của vụ án. Bởi vì, chân lý chỉ xuất hiện trên cơ sở so sánh , đánh giá các chứng cứ và cọ sát các quan điểm của bên buộc tội và bên gỡ tội. Chỉ trên cơ sở tranh luận này thì phán quyết của tòa án mới đảm bảo tính khách quan, tính có căn cứ mà không chỉ dựa vào quan điểm bên buộc tội.
3. Hoàn thiện các nguyên tắc chuyên biệt của luật hình sự và tố tụng hình sự nhằm bảo vệ quyền con người trong nhà nước pháp quyền ở Việt Nam
Khi chúng ta đã long trọng khẳn định trong Hiến pháp: Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền thì vấn đề bảo vệ quyền con người không thể không đặt ra và đòi hỏi phải được giải quyết trên cả ba phương diện: lý luận, lập pháp và thực tiễn.
Luật hình sự và tố tụng hình sự là công cụ sắc bén nhất nhằm đấu tranh phòng chống tội phạm bảo vệ quyền con người khi nó bị xâm phạm từ phía tội phạm. Nhưng đồng thời đây cũng là lĩnh vực mang đậm tính quyền lực nhà nước nên cũng rất dễ nảy sinh tình trạng xâm phạm quyền con người từ phía công quyền. Chính vì vậy, việc quy định tội phạm và hình phạt, việc đưa một người ra xét xử cần dựa trên hệ thống các nguyên tắc trong đó có các nguyên tắc chuyên biệt như không có luật thì không có tội; nguyên tắc suy đoán vô tội, nguyên tắc tranh tụng…. Không chỉ dừng lại ở việc ghi nhận nguyên tắc này trong pháp luật mà còn thể hiện đày đủ, cụ thể tư tưởng tiến bộ của nó trong các chế định, quy phạm của luật hình sự và tố tụng hình sự mà còn đòi hỏi tuân thủ nghiêm túc trong thực tế hoạt động tư pháp hình sự. Để đạt được yêu cầu đó, các nguyên tắc của luật hình sự và tố tụng hình sự cần tiếp tục được hoàn thiện theo hướng sau đây:
3.1. Đảm bảo chất lượng của công tác giải thích pháp luật hình sự
Để đảm bảo thực hiện được nguyên tắc không có luật thì không có tội phạm và hình phạt thì bên cạnh việc xây dựng hệ thống pháp luật hình sự với các tiêu chí thống nhất, đồng bộ, minh bạch….cần chú trọng đến việc giải thích nó. Nếu không có sự giải thích hoặc giải thích không đúng sẽ dẫn đến tình trạng hết sức nguy hiểm đó là việc áp dụng tùy tiện, chủ quan của tòa án và các cơ quan tư pháp hình sự hậu quả logic là các quy phạm của luật hình sự sẽ bị xuyên tạc, nguyên tắc không có luật thì không có tội phạm và hình phạt sẽ bị xâm phạm do đo khó đảm bảo được quyền con người.
Quy phạm pháp luật và quy phạm những quy định của pháp luật hình sự nói riêng là những mô hình pháp lý được khái quát từ các hình vi muôn hình muôn vẻ của con người trong xã hội. Các quy phạm thuộc phần các tội phạm của bộ luật hình sự quy định tội phạm cụ thể là từ khái quát những dấu hiệu đặc trưng, điển hình của một loại tội phạm cụ thể. Ví dụ. Dấu hiệu lén lút chiếm đoạt là dấu hiệu đặc trưng, điển hình của ăn trộm cắp tài sản. Nhưng trên thực tế hành vi trộm cắp có thể được thực hiện dưới các hình thức khác nhau: Đào tường, khoét gạch, móc túi……..nhưng điểm trung của các hành vi này được khái quát bằng dấu hiệu lén lút chiếm đoạt. Nhiệm vụ của cơ quan tiến hành tố tụng là áp dụng các quy phạm pháp luật mang tính khái quát đó vào để giải quyết vụ án đó cụ thể. Tuy nhiên không phải mọi quy phạm pháp luật đều rõ ràng, ai cũng hiểu và đúng trong mọi trường hợp. Điều đó đòi hỏi hoạt động tư duy”sáng tạo” trong hoạt động áp dụng pháp luật. Trong thực tế hoạt động tố tụng hình sự là sáng tỏ bản chất vụ án hình sự của các cơ quan tiến hành tố tụng phải giải quyết mâu thuẫn. Đó là mâu thuẫn giữa tính khái quát của quy phạm pháp luật với tính cụ thể của vụ án hình sự, tính cụ thể này được thể hiện thông qua các yêu cầu phải xác định như: Tội phạm xảy ra là tội gi? Được quy định tại Điều khoản nào của Bộ luật hình sự?. Ai là người thực hiện tội phạm – tên, tuổi và các đặc điểm nhân thân khác tội phạm được thực hiện trong điều kiện, hoàn cảnh, không gian thời gian cụ thể nào… Hai mâu thuẫn này là “hai mặt của sự thống nhất biện chứng đòi hỏi sự chính xác đúng đắn của hoạt động lập pháp và vai trò quan trọng của các cơ quan điều tra – truy tố – xét xử” . Mặt khác, hoạt động giải thích áp dụng pháp luật hình sự và sự tố tụng hình sự còn bị chi phối bởi yếu tố chủ quan của những người tiến hành tố tụng. Việc giải thích và áp dụng nó phù hợp vào trình độ nhận thức, điều kiện hoàn cảnh và các nhân tố khách quan khác. Điều đó dẫn đến việc cùng một quy phạm pháp luật nhưng có nhiều cách khác nhau hậu quả là có những cách áp dụng khác nhau nhất là trong bối cảnh hệ thống pháp luật chưa được hoàn thiện. Biểu hiện cụ thể của tình trạng này là các sự hiện diện ngày càng nhiều các bài viết tranh luận trên các tạp chí khoa học kiểu như: “ cần hướng dẫn cụ thể ở Điều…..BLHS, TTHS” hoặc Nguyễn văn A phạm tội gì?…. Đồng thời cũng từ cách iểu không giống nhau về nội dung của quy phạm pháp luật cụ thể dẫn đến việc giải quyết vụ án thiếu thống nhất gữa cơ quan điều tra với viện kiểm sát, tòa án hoặc giữa các cấp tòa án với nhau …. Đây là biểu hiện sinh động của tình trạng “xử kiểu gì cũng đúng” một trong những tình trạng không thể chấp nhận được nhất là trong việc giải quyết vụ án hình sự. Như vậy, chẳng những không bảo vệ quyền lợi của xã hội trước hành vi phạm tội và còn xâm phạm đến quyền con người của những người bị buộc tội.
Ở Việt Nam, việc giải thích pháp luật được Hiến pháp giáo cho UBTV Quốc hội, nhưng vì nhiều lý do, Ủy ban này mới chỉ thực hiện công việc này 5 lần. Việc giải thích pháp luật do Hội đồng thẩm phán Tòa án tối cao đảm nhiệm thông qua nhiều hình thức. Điều đó cho thấy nhu cầu giải thích pháp luật và pháp luật hình sự nói riêng vẫn còn rất lớn. Còn rất nhiều vấn đề của luật hình sự chưa được giải thích . Ví dụ như khái niệm “công vụ”, khái niệm “thày cô giáo”….Có những vấn đề tòa án tối cao đã giải thích nhưng còn tranh cãi ví dụ như vấn đề người tham gia đánh bạc bằng hình thức chơi “lô, đề”, vấn đề trách nhiệm hình sự sự của người chuẩn bị phạm tội. Ví dụ: Tại Nghị Quyết 01/200/NQHDT ngày 4/8/2000 của hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định tại phần chung BLHS đã hướng dẫn: “Nếu tại phiên tòa không thể xác định tội phạm mà họ (bị cáo) thực hiện là loại tội phạm nào, thì áp dụng khoản 2 Điều 89 BLTTHS 1988, Điều 17 BLHS tuyên bị cáo không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi chuẩn bị phạm tội mà họ truy tố”. Tuyên án như hướng dẫn này rõ ràng không thể xác định được bị cáo có tội hay không có tội oan hay không oan ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền con người của những người bị buộc tội
3.2 Ghi nhận nguyên tắc suy đoán vô tội
Trước hết, cần hoàn thiện nội dung của nguyên tắc suy đoán vô tội với tư cách là nguyên tắc cơ bản của luật TTHS. Như trên đã phân tích, BLTTHS Việt Nam năm 1988 và 2003 đã thừa nhận hai nội dung quan trọng của nguyên tắc suy đoán vô tội tại Điều 9 và Điều 10 qua hai nguyên tắc: Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án và nguyên tắc xác định sự thật khách quan của vụ án bằng cách khẳng định: Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng, bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội. Quy định như vậy Là vừa thiếu và vừa thừa. Thừa ở chỗ chỉ một nguyên tắc suy đoán vô tội nhưng lại được quy định thành 2 nguyên tắc với hai điều luật trong đó nguyên tắc tại Điều 9 không chỉ nhắc lại nội dung của nguyên tắc Hiến pháp 1992 (Điều 71) mà nội dung của điều luật này nhắc lại tên của điều luật. Về mặt kỹ thuật lập pháp rõ ràng là chưa đạt. Thiếu là ở chỗ nguyên tắc suy đoán vô tội với 4 nội dung đã phân tích ở phần trên nhưng Điều 9 và Điều 10 mới chỉ ghi lại với hai nội dung hết sức quan trọng là: Mọi nghi ngờ về tội phạm của bị can nếu không được loại trừ theo trình tự thủ tục luật định thì phải giải thích có lợi cho họ và bản án kết tội không được dựa trên những chứng cứ giả định. Chính vì không trực tiếp quy định cụ thể với nguyên tắc suy đoán vô tội với 4 nội dung nói trên có thể dẫn đến việc cho rằng: Nguyên tắc suy đoán vô tội không được luật tố tụng hình sự Việt Nam thừa nhận. Cũng vì quy định thiếu hai nội dung này dẫn đến việc trong thực tế có những vi phạm nguyên tắc suy đoán vô tội ở những trường hợp pháp luật còn quy định chưa rõ ràng, có sự nghi ngờ về chứng cứ nhưng cơ quan tiến hành tố tụng vẫn giải thích và áp dụng pháp luật theo hướng bất lợi cho bị can, bị cáo.
Một điểm chưa hợp lý trong quy định tại Điều 9 và Điều 10 là tại Điều 9 khẳng định phạm vị chủ thể có quyền được suy đoán vô tội là bất cứ người nào không phụ thuộc vào phạm vi buộc tội bằng cách quy định: “Không ai bị coi là có tội….”. Trong khi đó tại Điều 10 lại quy định hạn chế đối tượng được hưởng quyền suy đoán vô tội bằng cách giới hạn chỉ “bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh mình vô tội”. Không chỉ mâu thuẫn với Điều 9, Điều 10 còn mâu thuẫn với quy định của BLTTHS về các chủ thể bị buộc tội ngoài bị can, bị cáo còn là người bị tạm giữ (người bị tình nghi). Người tạm giữ là người bị buộc tội do vậy họ cũng có quyền được suy đoán vô tội trong đố có quyền được chứng minh là mình vô tội và không có nghĩa vụ chứng minh là mình vô tội. Trong quy định tại Điều 48 về quyền của người bị tạm giữ cũng thể hiện quyền được suy đoán vô tội của họ.
Mặt khác, nguyên tắc suy đoán vô tội gắn liền với nguyên tắc tranh tụng trong đó vai trò của tòa án cụ thể là hội đồng xét xử phải được coi là trọng tâm. Trong đó tòa án phải được trả về đúng vị trí của nó là cơ quan tiến hành tố tụng với tư cách làm trọng tài cho bên gỡ tội và bên gỡ tội và bên buộc tội và bên buộc tranh tụng. Chính vì vậy “Tòa án phải là cơ quan xét xử chứ không phải là cơ quan chứng minh tội phạmvà Tòa án cũng không phải là cơ quan buộc tội. Do đó quy định trách nhiệm chứng minh tội phạm trong nguyên tắc suy đoán vô tội cần khẳng định trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về bên buộc tội bao gồm cơ quan điều tra, viện kiểm sát người bị hại, mà không nên quy định chung là cơ quan tiến hành tố tụng bao gồm cả tòa án như Điều 10 BLTTHS hiện hành.
Trong thực tiễn điều gtra truy tố, xét xử vụ án hình sự cho thấy còn tồn tại những vi phạm nguyên tắc suy đoán vô tội xâm phạm đến quyền lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội có nguyên nhân từ việc quy định quyền của họ chưa được rõ ràng, chưa đầy đủ. Nói cách khác là họ chưa có quyền đầy đủ để thực hiện chứng minh sự vô tội của mình, chống lại sự buộc tội từ phía các cơ quan tiến hành tố tụng và thế quân bình giữa bên buộc tội và bên gỡ tội chưa được thiết lập.
Trước hết, Điều 50 BLTTHS không hề quy định quyền được im lặng của những người này. Tuy đây không phải là nghĩa vụ của người bị buộc tội nhưng với việc không quy định quyền được im lặng của họ dẫn đến việc cơ quan tiến hành tố tụng có hành vi cưỡng ép người bị buộc tội phải nhận tội, đẩy trách nhiệm chứng minh sang phía người bị buộc tội. Việc ghi nhận quyền được im lặng của người bị buộc tội trong tố tụng hình sự là phù hợp với Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị 1966 (Điều 14): “Không ai bị ép buộc phải làm chứng chống lại chính mình hay phải thú tội”. Quy định này nhằm ngăn cấm bất kỳ hình thức cưỡng bức nhận tội nào dù trực tiếp về thể xác hay tinh thần và dù là trước hay sau khi xét xử, có thể xử dụng để ép buộc người bị tình nghi, bị can, bị cáo phải chứng minh chống lại chính mình hay phải thú nhận. Ngoài ra, sự im lặng của bị cáo cũng không thể được sử dụng làm chứng cứ để chứng minh sự có tội và không thể rút ra được những hậu quả bất lợi từ việc áp dụng quyền giữ im lặng của bị cáo. Nói cách khác, không vì bị can, bị cáo im lặng hay rộng hơn họ không đưa ra chứng cứ cũng có nghĩa là họ bị coi là có tội đúng như Điều 67 Quy chế Rôm về Tòa án hình sự quốc tế đã quy định về quyền của bị cáo: “Không bị buộc phải khai hoặc nhận tội và được giữ im lặng mà sự im lặng đó không bị coi là có tội hay vô tội”(7). Quyền được im lặng của bị can, bị cáo cũng được BLTTHS Liên Bang Nga quy định tại Điều 47 theo đó bị can có quyền phản đối “phản đối việc buộc tội đưa ra những lời khai liên quan đến việc buộc tội của họ hoặc từ chối đưa ra những lời khai”.Quyền được im lặng và không buộc phải đưa ra chứng cứ chống lại mình cũng được luật tố tụng hình sự Hoa Kỳ áp dụng thể hiện qua án lệ Escobedo kiện bang Iiinoi hay án lệ Bang Colorado kiện Spring Như vậy quyền được im lặng là quyền năng tố tụng rất quan trọng của người bị buộc tội nó không chỉ được ghi nhận trong pháp luật quốc gia của nhiều nước mà còn ghi nhận trong quy định pháp luật quốc tế. Chính vì vậy, một khi chúng taq đã thừa nhận suy đoán vô tội với một trong những nội dung quan trọng của nó là khẳng định trách nhiệm chứng minh thuộc về bên buộc tội thì không thể không ghi nhận quyền được im lặng của người bị buộc tội và quyề không phải đưa ra chứng cứ chống lại chính mình của họ. Chứ không thể tồn tại khoảng chống pháp lý như hiện nay đó là: Không quy định đó là quyền nghĩa vụ của người bị buộc tội. Chính khoảng chống pháp luật này tạo cơ hội cho các cơ quan tiến hành tố tụng vận dụng sai nguyên tắc suy đoán vô tội biểu hiện bằng việc ép cung, dùng nhục hình thậm chí còn cho rằng bị cáo không khai báo là ngoan cố và coi đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự cho họ.
3.3 Tiếp tục mở rộng tranh tụng trong tố tụng hình sự
Trên thế giới trước đây và hiện nay tồn tại nhiều loại mô hình tố tụng khác nhau trong đó có hai mô hình tố tụng chủ yếu là tố tụng xét hỏi và tố tụng tranh tụng mà có người còn gọi là mô hình tố tụng kiểm soát tội phạm và tố tụng công bằng . Mỗi mô hình tố tụng đều có những ưu điểm và nhược hạn chế nhất định. Nếu mô hình tố tụng xét hỏi (kiểm soát tội phạm) lấy việc trấn áp tội phạm, hiệu quả của việc phát hiện, xử lý tội phạm là chức năng quan trọng của TTHS (bắt nhầm hơn bỏ sót) thì tố tụng tranh tụng (tố tụng công bằng) coi trọng sự cân bằng giữa việc phát hiện tội phạm và bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự với quan điểm nhiều khi thà bỏ sót hơn bắt nhầm. Không một mô hình tố tụng nào là hoàn hảo. Do đó, luật TTHS Việt Nam đang đứng trước sự lựa chọn khó khăn. Tiếp tục mô hình tố tụng xét hỏi như hiện nay hay chuyển sang mô hình tố tụng tranh tụng? Sự chuyển đổi mô hình tố tụng sẽ kéo theo sự thay đổi mạnh mẽ về thủ tục tố tụng trong đó có thủ tục trong giai đoạn tiền xét xử. Việt nam đang xây dựng nhà nước pháp quyền, một nhà nước mà quyền con người trong đó có quyền con người trong TTHS được tôn trọng và bảo vệ. Chính vì vậy, áp dụng mô hình tố tụng tranh tụng với những ưu điểm không thể phủ nhận của nó là một khả năng được xem xét đến. Tuy nhiên, chuyển đổi mô hình tố tụng không thể chỉ là mong muốn chủ quan mà cần có sự chuẩn bị nhiều mặt trong đó đặc biệt chú ý tới các điều kiện kinh tế xã hội, năng lực cơ quan tiến hành tố tụng và cả ý thức pháp luật của xã hội để mô hình đó phát huy hiệu quả trong thực tế. Chính vì vậy, trong thời điểm hiện nay theo chúng tôi chắc chắn không thể giữ nguyên mô hình tố tụng xét hỏi như hiện này mà chuyển sang áp dụng mô hình tố tụng hỗn hợp tiếp thu những ưu điểm của tố tụng tranh tụng và tố tụng xét hỏi là một lựa chọn đúng đắn. Chúng tôi hoàn toàn nhất trí với Nghị quyết 08, nghị quyết 49 của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt nam về cải cách tư pháp khi Nghị quyết này đã có sự thận trọng cần thiết khi không khẳng định chuyển đổi hoàn toàn mô hình tố tụng hiện nay sang tố tụng tranh tụng mà chỉ là “mở rộng tranh tụng tại phiên tòa”. Sẽ là duy ý chí và lạc quan quá sớm khi chúng ta áp dụng một mô hình tố tụng khác khi chưa có sự chuẩn bị đầy đủ về mọi mặt.
Việc áp dụng một mô hình tố tụng hỗn hợp xét hỏi và tranh tụng đòi hỏi thủ tục tiền xét xử của luật TTHS Việt Nam đặt ra yêu cầu: Trong giai đoạn điều tra cần có sự cởi mở hơn đảm bảo có việc tham gia tích cựcủa các chủ thể khác thuộc bên gỡ tội đặc biệt là quyền của người bào chữa trong quá trình khởi tố, điều tra.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Đào Trí Úc, Luật hình sự Việt Nam, NXB Khoa học xã hội năm 2000, tr. 245
2, Đàm Trung Mộc, Hình luật giảng tập, Sài gòn 1965
3, Tại miền Nam Việt Nam trước 1975, chính quyền đã Bộ luật hình sự 1972 tronng đó, điều 1 của bộ luật này quy định: Mọi tội phạm, mọi hình phạt đều phải được luật tiên liệu
4.Nguyễn Quốc Hưng- Hình sự tố tụng, NXB Khai trí , Sài Gòn 1957
Trương Tuyết Minh, Mối quan hệ giữa tội phạm và cấu thành tội phạm, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số 6 năm 2005, Tr. 14


Lan man chuyện xăng dầu

Đinh Thế Hưng
Viện nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật

Bài đã đăng trên Dân Trí và website của Tập đoàn dầu khí Việt Nam:

http://www.petrolimex.com.vn/nd/bao-chi-viet-ve-petrolimex-va-xang-dau/lan_man_chuyen_xang_dau/default.aspx

(Dân trí) – Giá xăng dầu lại tăng, tại các các cây xăng nhiều người chen nhau mua lấy một bình. Không thể trách họ cho dù sự chen lấn có gây nên đôi chút hỗn loạn. Nhưng dẫu sao là sự phản xạ tự nhiên, một chút an ủi của giới bình dân.

Điều gì đến cũng phải đến thôi. Như vậy, giá xăng dầu đồng lại đồng loạt tăng, tại các các cây xăng anh xe ôm, chị nhân viên văn phòng chen nhau mua lấy một bình.

Không thể trách người dân cho dù sự chen lấn có gây nên đôi chút hỗn loạn. Một bình xăng đầy mua theo giá cũ không làm đầy vơi quá nhiều túi tiền nhưng dẫu sao là sự phản xạ tự nhiên, một chút an ủi của giới bình dân.

Tăng giá xăng dầu là điều bất khả kháng mà bất cứ người dân bình thường nào đều có thể biết và không cần đưa ra nhiều lý do.

Không một nguồn ngân sách nào có thể chịu đựng được mức 30% nguồn thu nội địa phải dành cho bù lỗ xăng dầu.

Tăng giá xăng là điều nhiều người linh cảm được nhưng sự tăng giá quá đột ngột là điều không ai cũng có thể thích ứng ngay được. Bởi lẽ trong thời điểm nhạy cảm này bất cứ một tiếng kêu “cháy” bất ngờ vang lên giữa chợ đông người đều gây nên những hiệu ứng không có lợi và bất cứ “cú phanh gấp” nào đều khiến người ta mất phương hướng.

Trên các báo mấy hôm nay, tràn ngập các thông tin về xăng dầu tăng giá. Đó có thể là lời trấn an, giải thích của quan chức, lời than vãn của bà nội trợ.

Báo chí có bàn tán, người dân có giật mình, tất cả rồi sẽ qua đi trong vài ngày nữa thôi bởi tăng giá xăng dầu không còn cách nào khác. Điều quan trọng nhất bây giờ có lẽ là tìm ra những giải pháp đối phó với hậu quả của tăng giá xăng dầu và rút ra những kinh nghiệm từ việc điều hành kinh tế vĩ mô và sự tính toán cho cuộc sống đời thường của mỗi cá nhân.

Cái đầu tiên chuẩn bị có lẽ là sự chuẩn bị về tâm lý. Những khó khăn nền kinh tế trong nước, sự bất ổn của giá nhiên liệu thế giới, thu chi của ngân sách nhà nước không có gì là bí hiểm đối với bất kỳ ai trong cái thời buổi bùng nổ thông tin và minh bạch là đòi hỏi gay gắt của kinh tế thị trường. Thế nên, đã đến lúc cần cho người dân thấy được thực chất của vấn đề để họ chuẩn bị. Điều đó, sẽ làm cho sự chia sẻ khó khăn từ phía người dân trở nên hiệu quả và tự nguyện hơn.

Mặt khác, xăng dầu luôn là mặt hàng nhạy cảm. Người ta không lo ngại khi chi phí cho tiền xăng dầu trực tiếp tăng lên mà cái chính là sự tác động của xăng dầu tới các mặt hàng khác bởi trong thời buổi này không ai có thể chỉ bán mà không mua và ngược lại.

Chính vì vậy, không nên nặng lời mà nói rằng tất cả các nhà buôn đều nhăm nhăm “ăn theo” với giá xăng dầu nhất là các doanh nghiệp vận tải, những doanh nghiệp mà hoạt động sản xuất kinh danh của họ trực tiếp liên quan đến xăng dầu bởi họ cũng không còn cách nào khác và nỗ lực kiểm soát giá cả không phải là sự can thiệp trái quy luật vào thị trường.

Cũng không nên quá nhấn mạnh vào lý do tăng giá xăng dầu là để chống buôn lậu hay so sánh với giá xăng dầu của các nước khác. Bởi lẽ, chống buôn lậu là nhiệm vụ chính của cơ quan chức năng mà tăng giá chỉ là một biện pháp phụ trợ và mức thu nhập của người dân không phải nước nào cũng cao giống nhau.

Tăng giảm giá mặt hàng nào đó là câu chuyện của thị trường. Nhưng tại sao lại giảm ngần này mà không phải nhiều hơn nhiều khi lại là cách giải thích của con người. Nếu giá dầu thế giời còn tiếp tục nhảy múa thì có ai giám chắc cái giá 21.300đồng/lit xăng là cái giá cuối cùng.

Chính vì thế, để không phải có những hợp đồng phải đánh tháo, những dự án làm ăn phải tính toán lại và để củng cố niềm tin cái cần thiết nhất vẫn là sự chuẩn bị để đối mặt với khó khăn.

Bất cứ nền kinh tế nào dù tự nhận là thị trường hoàn hảo cũng không thể thiếu bàn tay hữu hình của nhà nước can thiệp. Can thiệp bằng dự báo thị trường, bằng xử lý kẻ đầu cơ chứ không nên bằng mệnh lệnh áp đặt giá lên một mặt hàng nào đó. Đó là việc của thị trường. Mong đến lúc nào đó giá xăng tăng hay giảm không khiến người ta giật mình cho dù có buồn hay vui.

Đinh Thế Hưng

Nguồn: Dân trí


BIA MÀ CŨNG ĐÒI NGANG HÀNG VỚI RƯỢU !!!!

ĐINH THẾ HƯNG

Từ thủa xa xưa, cùng với quan lộc, rượu và bây giờ có thêm bia luôn là chủ đề ám ảnh đời sống công chức. Mặc dù có người cho rằng nói rượu bia là quen miệng chứ bia mà cũng đòi đứng cạnh rượu cho dù có rất nhiều rượu ngoại trên thị trường là đồ dởm. Trên thề giới này có bao nhiêu nhiêu người uống rượu có lẽ cũng có bấy nhiêu câu triêt lý về nó. Ai cũng cho rằng rượu chè là chuyện chẳng có gì hay ho nhưng nếu có được mời đi nhậu thì ít người dũng cảm từ chối được nhất là khi trong ví có kha khá tiền và đầu óc thì săm sắp tâm sự cần được giãi bày. Nhậu riết thành quen và có khi là nghiện. Nhưng nhiều người đi nhậu không phải vì nghiện rượu mà nghiện chính cái không khí nhậu nhẹt và đàn đúm. Mới đây, theo điều tra của Viện nghiên cứu chiến lược và chính sách (Bộ Y tế) thì không phải những người lao động chân tay hay đau mỏi cơ bắp, cũng không phải giới doanh nhân nhiều tiền và nhiều cả tai tiếng mà giói công chức là những người uống rượu bia khoẻ nhất. Mặc dù đã có không ít chỉ thị cấm và văn hoá nơi công sở đang là điều nhiều các cơ quan treo làm khẩu hiệu nhưng công chức vẫn nghiễm nhiên chiếm vị trí “quán quân” về uống rượu hẳn có lý do.

Trước hết, có phải tại vì cuộc sống công chức đang phải chịu áp lực từ nhiều phía quá chăng? Ở nhà phải đóng vai người chồng nể vợ và người cha gương mẫu. Đến công sở thì có trăm ngàn nỗi sợ trong đó có cả việc sợ sếp và sợ cả cái vị trí “quan trên trông xuống người ta trông vào”. Chính vì thể có lẽ chỉ đến quán nhậu công chức mới được thực sự là mình: vui tính và đáng yêu, vô tư và xởi lởi. Hơn nữa, chính khí chất nông nổi dịu dàng và vô tư của bia lại rất hợp với tranh luận và hùng biện, còn sự đạm đà, sâu lắng của rượu lại có thể là xúc tác tốt nhất cho tâm sự và sẻ chia những công việc ngoài lề mà công sở thì có bao giờ hết chuyện ngoài lề đâu. Có những chuyện trong cuộc họp thì chẳng thấy nói chỉ thích nói nơi quán nhậu. Cũng có thể công chức là người luôn dư giả thời gian cho dù 8 giờ vàng ngọc luôn là cái để người ta nói về công việc của họ và cuộc sống công chức luôn có phương châm hết giờ chứ không bao giờ hết việc. Chính vì vậy tội gì phải cố cho nó nhọc. Công chức đến quán nhậu cũng có khi họ có nhiều quan hệ và có công việc ở công sở chỉ là sự hợp pháp hoá những việc đã bàn hôm qua bên bàn rượu. Vừa được đi nhậu, vừa có tiền tiêu, vừa củng cố quan hệ, vừa giải quyết đựoc bao nhiêu là việc trong đó có cả việc cơ quan. Công tư quá vẹn toàn ai chẳng thích. Có những nơi người ta chia quán nhậu theo cơ cấu của cơ quan hành chính cho nó thoải mái và thể hiện một “đẳng cấp” nào đó: quán này của Sở Y, quán kia của sở X …

Tuy nhiên dù với lý do gì đi chăng nữa thì không một nhà nước nào chấp nhận công chức của mình rượu chè be bét mà ảnh hưởng đến công việc chung. Bởi như cổ nhân đã nói: rượu luôn làm đỏ mặt và đen danh dự. Nhất là công chức chỉ đượ phép đỏ chứ không bao giờ được đen. Nếu ai đó cứ một lần nhậu nhẹt với một công chức ở quán nhậu thì gặp họ nơi công sở đảm bảo rằng sự tôn trọng sẽ giảm đi ít nhiều và công việc chung khó mà được giải quyết vô tư . Ngoài những tác hại về sức khoẻ, chất lượng công việc, hình ảnh của công quyền, việc rượu chè quán xá còn là điều kiên cho mất đoàn kết nội bộ bởi rượu vào thì lời sẽ ra. Thói thường nói xấu đồng nghiệp chán xong thường quay ra nói xấu “sếp” và nói xấu chế độ là chuyện thường thấy xung quanh bàn nhậu.
Đinh Thế Hưng


VỀ QUÊ ĐỤNG LỢN

Đinh Thế Hưng

Bài đã đăng trên VietnamNet, Báo Tienphongonline và Tạp chí Thế giới di sản ( Vietnam Heritage ).

Quê tôi, một miền quê nghèo vùng châu thổ Sông Hồng từ cái thuở Lang Liêu làm bánh dâng vua cha đến hôm nay, Tết đến chỉ có gạo nếp, đậu xanh và thịt lợn. Cho dù bây giờ đã trưởng thành và phải xa quê, nhưng mỗi dịp Tết năm nào tôi cũng háo hức về quê để đụng lợn.
Cứ vào khoảng tháng 10, người dân trong làng đã chuẩn bị lợn Tết. Nhà nào có của ăn của để thì giết hẳn một con. Còn thường thì 3-4 nhà mổ chung một con để ăn Tết. Con lợn nào đã để dành đến Tết được chăm sóc với chế độ đặc biệt. Chỉ ăn cám gạo và cây chuổi thái. Như vậy con lợn tết mới ngon và sợ người làng người ta nói là tham vì nuôi lợn không ra gì mà dám rủ anh em đánh đụng rồi cả năm không dám nhìn mặt ai.

Nhà nào có lợn Tết phải chuẩn bị đầy đủ rau thơm, củi lửa từ chiều 29 Tết.

Sáng sớm ngày 30 cả làng rậm rịch tiếng lợn kêu, tiếng dao thớt, thái chặt… Trẻ con thì quanh quẩn bên chỗ làm lợn để chờ người lớn sai vặt và chờ cả cái bong bóng, cái khấu đuôi. Người già thì sì sụp bát nước luộc lòng xuýt xoa khen con lợn béo. Lợn chọc tiết làm lông xong thì việc đầu tiên là cắt cái thủ để luộc trước sau đó mang ra miếu làng thắp hương ông thành hoàng.

Đến khoảng 10 giờ trưa thì công việc giết mổ và chia phần lợn đã xong. Và thế là bố bê rổ thịt đi trước, con xách dao thớt đi sau nhà nào về nhà ấy chế biến món ăn để cúng tổ tiên trong ấm cúng khói hương. Cho dù bây giờ không thiếu đồ gì đồ ăn ngon nhưng bữa cơm ngày 30 Tết ở quê tôi không bao giờ thiếu món tiết canh lòng lợn.

Lạ thật, lòng lợn tiết canh bây gìơ ở đâu chả có nhưng sao Tết nào cũng muốn về để gọi nhau sang nhà để thưởng thức.

Nói đến việc đụng lợn tôi chợt nhớ đến thày tôi những năm tháng còn học đại học. Thày khuyên rằng Tết đến về quê nên khuyên mọi người đụng lợn. Bởi tục đụng lợn có lẽ có từ thời nguyên thuỷ khi cả bầy đàn đi săn được con thú và cùng nhau chia phần. Đó chính là một nét văn hoá làng Việt cần được duy trì.

Hãy tưởng tưởng mấy nhà cùng nhau mổ lợn, cùng nhau chia phần, cùng nhau tận hưởng thành quả lao động thì sẽ thấy tinh thần đoàn kết của những con người trong cộng đồng làng xã được củng cổ, và tình người mới ấm áp làm sao.

Tết năm rồi, tôi cũng về quê ngủ với mẹ. Đêm 29 Tết làng quê yên ắng lạ thường. Không đì đùng tiếng pháo, không rậm rịch tiếng chân người và thưa thớt tiếng lợn kêu. Mẹ tôi trở mình trằn trọc và nói càng ngày càng ít người đụng lợn. Nhiều người nhất là những người trẻ họ ngại làm vì bận mặt khác anh em đánh chửi nhau cả năm là sao mà rủ nhau mà đụng lợn được.

Thôi thì cứ bỏ tiền ra là mua vài cân giò, vài thùng bia cho nó đỡ cách rách, ăn uống bây giờ có quan trọng đâu. Thế nhưng quê tôi vẫn còn rất nhiều người lớp tuổi mẹ tôi, cao lương mỹ vị không cần nhưng vẫn thèm bát nước luộc lòng hay bát tiết canh ăn vào mát cả ruột gan và quan trọng nhất là đọc được trong mắt họ niềm hành phúc đoàn tụ.

Ngày mai Tết rồi, đêm nằm ở quê mà nhớ da diết tiếng lợn kêu!


Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.